Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

“HỌ” TỰ LOẠI MÌNH KHỎI DÂN TỘC





Chiến thắng 30-4-1975 là một mốc son trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Tổ quốc thống nhất, Bắc, Nam sum họp một nhà, cả nước chung tay xây dựng đất nước. Chiến tranh đã lùi xa 42 năm, nó thật sự đã thuộc về quá khứ. Một quá khứ mà chúng ta mong muốn khép lại. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó rỉ máu. Trong khi chúng ta đang huy động mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, và góp phần kiến tạo, bảo vệ sự ổn định, hòa bình, thịnh vượng trên thế giới, thì vẫn có một số người nuôi mối hận thù với Nhà nước Việt Nam. Họ xuyên tạc tinh thần hòa hợp, cản trở người lương thiện trở về quê hương, nhẫn tâm chống phá, xâm hại đất nước đã sinh ra họ.
Núp dưới chiêu bài: “lời kêu gọi” hòa hợp dân tộc, họ yêu cầu Quốc hội sửa đổi Hiến pháp hiện hành, theo hướng dân chủ pháp trị, đa đảng; cần làm luật tu chỉnh hoặc luật mới thay thế những luật lệ trái với Hiến pháp dân chủ pháp trị, đa đảng,... làm “Luật chính đảng” để cho phép các chính đảng được thành lập và tham gia sinh hoạt chính trị hợp pháp trong chế độ dân chủ đa đảng. Ngưng bắt bớ giam cầm và thả tất cả các tù nhân chính trị để chứng tỏ thực tâm muốn “hòa giải và hòa hợp dân tộc” của Đảng và nhà cầm quyền đương thời tại Việt Nam, v.v. Như vậy, bản chất và mục đích cuối cùng của họ vẫn chỉ là cố súy cho lối sống thực dụng tư bản chủ nghĩa, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để giành lại chính quyền về tay giai cấp tư sản, phủ nhận thành quả cách mạng mà bao thế hệ cha anh của đất nước ta đã phải đổi bằng máu để giành lại.
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, bị thực dân Pháp đô hộ và đế quốc Mỹ xâm lược. Bằng truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất, hy sinh anh dũng mới giành được độc lập, tự do. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đất nước ta không những đã thoát khỏi đói nghèo mà đang phấn đấu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong lịch sử, có giai đoạn Đảng ta đã tuyên bố tự giải tán và mở rộng Chính phủ dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu với sự tham gia của nhiều đảng phái đối lập như Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng); Việt Cách (Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội), v.v. Nhưng cùng với dòng chảy của cách mạng, những tổ chức, đảng phái đó kẻ phản động “bán nước cầu vinh”, người xem nhẹ lợi ích quốc gia, dân tộc nên đã bị chính lịch sử và nhân dân ta loại bỏ. Khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng cuốn gói chạy theo, trên vũ đài chính trị nước ta duy nhất chỉ còn lại Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối cách mạng khoa học, đúng đắn đã đại diện quyền lợi của nhân dân lao động, lợi ích quốc gia, dân tộc. Như vậy, có thể khẳng định rằng: đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam là một quy luật tất yếu khách quan của lịch sử.
Thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo ở Việt Nam hoàn toàn không đồng nghĩa với việc mất dân chủ, triệt tiêu dân chủ như các thế lực thù địch đã và đang ra sức xuyên tạc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đều có sự tham gia đóng góp ý kiến của quần chúng nhân dân, phát huy dân chủ rộng rãi. Đường lối, chủ trương của Đảng luôn được xây dựng trên cơ sở lắng nghe, tiếp thu ý kiến xây dựng của mọi tổ chức chính trị - xã hội, của các đoàn thể và mọi tầng lớp nhân dân. Điển hình là: trong quá trình chuẩn bị cho Đại hội XII, Đảng đã tổ chức lấy ý kiến nhân dân và nhận được hàng vạn ý kiến tâm huyết của nhân dân cả nước. Đây chính là những biểu hiện cao nhất, sinh động nhất của việc phát huy dân chủ xã hội, đề cao quyền làm chủ của nhân dân.
Tuy nhiên, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật”, chúng ta không phủ nhận ở đâu đó trong xã hội vẫn còn có những biểu hiện thiếu dân chủ nhưng đó chỉ là những hiện tượng riêng lẻ, là những thiếu sót, những hạn chế cụ thể trong quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Không thể xem đó là bản chất của Đảng ta, không thể coi đó là bản chất của nền dân chủ mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang gắng sức xây dựng; càng không thể dựa vào những hiện tượng đó để yêu cầu thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam.
Họ đòi thả những tù nhân chính trị ư? Thật trơ trẽn và phi lý. Họ có tự hỏi: trên thế giới này có quốc gia nào dung thứ cho những kẻ hoạt động chống phá, lật đổ chính quyền không? Ở Việt Nam chỉ xử lý những kẻ vi phạm pháp luật và cũng như các quốc gia khác không thể dung thứ cho những kẻ chống phá, lật đổ chế độ. Đó là lẽ đương nhiên! Cái mà họ gọi là tù nhân “chính trị”, tù nhân “lương tâm” chỉ sự suy diễn một chiều, sự xuyên tạc lố bịch!
Họ cố tình quên: “hòa giải hòa hợp dân tộc” để đoàn kết vững chắc chính là tiến trình tất yếu khi dân tộc gánh chịu quá nhiều những phân ly. Nhưng sự “hòa giải hòa hợp” ấy không thể có được từ một phía và không thể có được nếu không thật lòng. Vì sự thù hận làm cho mắt mờ mà họ không biết: cộng đồng người Việt chúng ta dù ở đâu, dù chính kiến nào đều là những người thực lòng yêu nước, khát khao cho đất nước một tương lai bình yên, hạnh phúc. Thực tiễn cho thấy, mặc dù ra đi vì các lý do khác nhau nhưng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn được tạo điều kiện trở về quê cha đất tổ, thăm nom, giúp đỡ người thân, đóng góp với đồng bào trong nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hàng triệu lượt người Việt Nam ở nước ngoài hằng năm vẫn về thăm quê hương là biểu thị rất cụ thể cho tinh thần hòa hợp mà chúng ta hướng tới. Tuy nhiên vẫn có một số người gốc Việt còn nuôi mối hận thù với Nhà nước Việt Nam. Họ xuyên tạc tinh thần hòa hợp, họ đưa ra những yêu sách đòi hỏi vô lý. Với những con người đó, không đất nước nào ruồng bỏ họ, mà chính họ tự loại mình khỏi dân tộc, tự đứng vào thế đối lập với dân tộc. Đó là điều không thể chấp nhận, vì chúng ta chỉ có thể hòa hợp với người thiện chí, chứ không thể hòa hợp với người lấy đối đầu và mặc cả làm điều kiện hòa hợp. Họ cố tình không biết: với tinh thần kép lại quá khứ, hướng tới tương lai, chúng ta đã tha thứ cho kẻ thù của chúng ta là đế quốc Mỹ, thực dân Pháp. Vậy tại sao lại không nhìn nhận người anh em cùng một bào thai, cùng một dòng máu Lạc Hồng? Bởi, do chính họ luôn mặc cảm, có những hận thù, không từ một thủ đoạn nào để tìm mọi cách chống phá lại quê hương, đất nước, nơi họ sinh ra. Họ chỉ vì lợi ích bản thân, họ chẳng làm gì cho đất nước, cho hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Vậy họ có tư cách gì để đưa ra điều kiện đòi “hòa giải hòa hợp dân tộc”?
@ Ngô

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét