Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

"kinh tế tư nhân" với một góc nhìn



                                                                      
                                                                                    Thành công
Trong thời đại ngày nay, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên toàn cầu hóa với tất cả vận hội và thách thức đan xen, chuyển hóa khôn lường, trong một thế giới phẳng toàn cầu hóa cạnh tranh sinh tử. Đất nước ta hội nhập với thế giới, với bạn bè năm châu, bốn bể là để học hỏi, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, của thời đại, làm giàu thêm, phong phú thêm đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của dân tộc Việt Nam; để tranh thủ ngoại lực, khơi dậy nội lực, biến ngoại lực thành nội lực, xây dựng đất nước phát triển bền vũng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước những tác động tiêu cực của các thế lực thù địch bên ngoài câu kết với các phần tử cơ hội chính trị, phản động trong nước đẩy mạnh các hoạt động chống phá đất nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế, nhất là phát triển kinh tế tư nhân. Nhìn vào thực tế hiện nay cho thấy trong quá trình vận hành nền kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân cũng gặp không ít quan điểm trái chiều, nhận thức chưa đầy đủ, thiếu khách quan, lầm tưởng, thậm chí còn nhận thức không đúng về vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hoặc phủ nhận vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước… Chính những lý do đó, các thế lực thù địch ở bên ngoài, các phần tử cơ hội chính trị, phản động trong nước đã lợi dụng vấn đề này để thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc. Trong thời gian qua, các trang mạng xã hội với nhiều bài viết với nội dung và giọng điệu châm chọc, xuyên tạc, bịa đặt chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế tư nhân, nhất là gần đây Giáo sư, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Lê Xuân Tùng có bài viết "Phải chăng kinh tế tư nhân là nền tảng của nền kinh tế" được nhiều độc giả quan tâm tìm đọc, trao đổi, bình luận theo tư duy và cách nhìn nhận khác nhau về kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay. Với cách nhìn nhận của cá nhân, tôi xin trao đổi với độc giả bạn đọc gần xa để cùng xem xét, suy ngẫm.
Trong thời đại ngày nay, bất cứ một nền sản xuất xã hội nào muốn đạt hiệu quả tăng trưởng cao đều phải thực hiện nền kinh tế thị trường. Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Một trong những nguyên nhân cơ bản tạo nên sự phát triển của nền kinh tế nước ta là đã khơi dậy được tiềm năng của các thành phần kinh tế thông qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng và tiếp tục được khuyến khích phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta trong 30 năm đổi mới vừa qua. Điều này khẳng định, với trình độ phát triển như hiện nay của lực lượng sản xuất ở nước ta, sự tồn tại của kinh tế tư nhân là nhu cầu khách quan; có nghĩa là, kinh tế tư nhân đã và đang tiếp tục chứng tỏ vai trò động lực của nó, là chỗ dựa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời sự phát triển của kinh tế tư nhân trong những năm đổi mới vừa qua đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội của đất nước, nhất là xóa đói, giảm nghèo, tạo được nhiều việc làm mới cho người lao động. Một điều thấy rất rõ và không thể phủ nhận, kinh tế tư nhân chỉ phát triển đúng hướng khi Đảng và Nhà nước có chính sách và biện pháp quản lý phù hợp, tạo động lực phát triển và không để nó vận hành một cách tự phát, thích ứng với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Cụ thể hơn nữa, kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân luôn gắn bó chặt chẽ, mật thiết với nhau, tạo điều kiện để cùng tồn tại và phát triển. Ở nước ta hiện nay, trong mối quan hệ giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, còn kinh tế tư nhân là "chỗ dựa thiết yếu”, "có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” thúc đẩy xã hội phát triển. Hiện nay chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong điều tiết các thành phần kinh tế. Một thực tế cho thấy, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước.. Tuy nhiên, vì nền kinh tế tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường. Trong các nền kinh tế thị trường đã Phát triển, Nhà nước có 3 chức năng kinh tế rõ rệt là: can thiệp, quản lý và điều hoà phúc lợi. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, song sự điều tiết của Nhà nước vẫn là một trong các hoạt động của nền kinh tế thị trường. Theo đó, thị trường tự do với đúng nghĩa của nó không thể tồn tại, ngoại trừ trong các lý thuyết kinh tế. Tuy nhiên, khi khẳng định sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước thì cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng tới cái được - cái mất của sự can thiệp ấy, khi nảo? ở khâu nào?... Cách giải quyết không phải là bỏ mặc thị trường, mà phải là nâng cao hiệu quả của sự can thiệp đó. Nhà nước có một vai trò chính đáng và thường xuyên trong các nền kinh tế. Vai trò đó của Nhà nước đặc biệt thể hiện rõ rệt ở việc xác định "các quy tắc trò chơi" để can thiệp vào những khu vực cần có sự lựa chọn, thể hiện nhưng khuyết tật của thị trường, để đảm bảo tính chỉnh thể của nền kinh tế và để cung cấp những dịch vụ phúc lợi. Quả thực, không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước trong các lĩnh vực như: ổn định kinh tế vĩ mô thông qua chính sách tài chính và tiền tệ, củng cố an ninh quốc phòng, cung cấp hàng hoá công cộng, chống ô nhiễm môi trường, phát triển giáo dục tăng thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội, tạo dựng một bộ khung xã hội được sự điều hành của luật pháp, định hướng cạnh tranh một cách có hiệu quả bằng cách giảm độc quyền…Quan trọng hơn Nhà nước phải tạo ra được môi trường cạnh tranh lành mạnh để phát huy hiệu quả các thành phần kinh tế.
Một minh chứng cụ thể cho vấn đề ở trên và để có phép so sánh, chính là "phép thần kỳ" của Singapore đạt được thực ra là gì? Câu trả lời đến từ vai trò cốt yếu của Nhà nước trong tất cả các lĩnh vực của Singapore. Cố Thủ tướng Lý Quang Diệu cho rằng "với một quốc gia nhỏ bé như Singapore, tìm kiếm một công ty tư nhân đủ lớn để đối đầu với các tập đoàn đa quốc gia là rất khó. Vì vậy, Nhà nước sẽ đứng ra làm tất cả". Ngày nay, 80% dân số Singapore sống trong những căn hộ do Nhà nước xây dựng. Dù quá trình cổ phần hóa đã diễn ra, Nhà nước hiện vẫn chi phối gần như tất cả các doanh nghiệp lớn nhất tại đây. Để phục vụ cho quá trình phát triển của Singapore, Đảng lãnh đạo đất nước này sẵn sàng gạt bỏ những "kẻ quá khích". Theo nhiều cách nói, đó có thể là sự độc tài, nhưng miễn là Singapore vẫn duy trì được tăng trưởng và ổn định, sẽ không có vấn đề nghiêm trọng nào xảy ra. Áp dụng một mô hình rất thành công cho tới tận ngày nay, phép thần kỳ của Singapore có vai trò độc tôn của Nhà nước. Để nói về thành công điều hành kinh tế Singapore của Thủ tướng Lý Quang Diệu, có thể nhắc đến những tập đoàn, công ty được thành lập dưới thời ông mà nay đã trở thành những cái tên lừng danh thế giới. Năm 1968, Ngân hàng Phát triển Singapore (DBS) được thành lập và nay DBS trở thành ngân hàng lớn nhất Đông Nam Á. Năm 1972, Singapore Airlines ra đời và hiện là một trong 5 hãng hàng không lớn nhất châu Á về mặt giá trị thị trường. Năm 1974, công ty đầu tư của Nhà nước Temasek Holdings được thành lập nhằm quản lý các khoản đầu tư và tài sản của Chính phủ. Ngày nay, Termasek quản lý khối tài sản 162 tỷ USD, với CEO là bà Ho Ching, vợ của Thủ tướng đương nhiệm Lý Hiển Long. Còn năm 1981, Singapore khai trương sân bay Changi và ngày nay thành một trong sân bay quốc tế hàng đầu thế giới...
Có thể khẳng định ngày nay kinh tế tư nhân không chỉ có tiếng nói quyết định đến sức mạnh kinh tế của hầu hết các quốc gia mà còn trở thành một lực lượng kinh tế có ý nghĩa chính trị toàn cầu. Sự giàu có và thịnh vượng của mỗi quốc gia tùy thuộc rất nhiều vào thái độ của toàn xã hội, đặc biệt là của đảng cầm quyền, đối với khu vực kinh tế trọng yếu này. Đường lối phát triển kinh tế của một quốc gia thể hiện tư duy chiến lược và có vai trò quan trọng đối với thành công hay thất bại của nền kinh tế. Kinh tế tư nhân đang hình thành những dạng thức đa dạng và phong phú đặc trưng cho mỗi giai đoạn phát triển của đời sống xã hội. Phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng có nghĩa là bảo tồn tính đa dạng, phong phú của đời sống kinh tế, xem nó như là động lực của sự phát triển. Chính vì vậy, cần nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN để thúc đẩy các thành phần kinh tế của đất nước ta dần dần hòa nhịp được với phát triển kinh tế của khu vực và thế giới./.. 




Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là trách nhiệm của toàn dân tộc


Trong thời đại ngày nay, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên toàn cầu hóa với tất cả sự phức tạp của thời cơ và nguy cơ, vận hội và thách thức đan xen, chuyển hóa khôn lường, giữa biển rộng toàn cầu hóa tranh đua sinh tử, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, hơn bao giờ hết, càng được khắc sâu và tỏa sáng. Đất nước ta hội nhập với thế giới, với bạn bè năm châu, bốn bể là để học hỏi, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, của thời đại, làm giàu thêm, phong phú hơn nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam; để tranh thủ ngoại lực, khơi dậy nội lực, biến ngoại lực thành nội lực, xây dựng đất nước phát triển bền vũng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước những tác động từ bên ngoài, nhất là tình hình căng thẳng trên biển đông hiện nay, đang và sẽ tiếp tục đặt ra cho chúng ta nhiều thời cơ, nhưng cũng đầy những thách thức cam go của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Giang sơn, xã tắc mấy nghìn năm ông cha ta truyền lại, thế hệ con cháu chúng ta hôm nay và mãi mãi sau này có nghĩa vụ và trách nhiệm thiêng liêng là phải giữ gìn, quyết không để tổn thất một ly. Dân tộc ta đã mấy nghìn năm nối đời dựng nước, giữ nước, đã đi qua hàng trăm cuộc khởi nghĩa, kháng chiến chống xâm lăng, ở mọi quy mô, với biết bao hy sinh, xương máu; trong những giờ phút hiểm nghèo, đã nêu cao ý chí “dù phải tát cạn biển Đông”, “dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn” cũng quyết giành lại và giữ gìn vững chắc độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Ngày nay, hơn 90 triệu đồng bào ta nguyện làm hết sức mình, nguyện đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải, sẵn sàng hiến dâng tới giọt máu cuối cùng vì những điều thiêng liêng vô giá đó.
Lợi ích quốc gia - dân tộc của chúng ta là cụ thể: Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; chế độ xã hội chủ nghĩa, sự giàu mạnh, hùng cường của đất nước, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập quan hệ hữu nghị và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta; bất kỳ thế lực nào có âm mưu, hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Làm trái với xu thế hòa bình, phát triển, xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc là vong thân, hại quốc, là có tội với tổ tiên, các thế hệ cha ông, là phụ lại lòng tin và sự ủy thác của nhân dân.
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, cũng như lịch sử của các quốc gia, dân tộc đông, tây, kim, cổ trên thế giới đều xác nhận và khẳng định chân lý: Nhân dân là người làm nên lịch sử, sức dân là vô địch. Chính những người dân chân lấm, tay bùn, chịu thương, chiụ khó, biết bao đời lao động cần cù, hai sương một nắng đã khai sơn, phá thạch dựng nên hình hài Tổ quốc và đã biết bao lần mang xương máu của mình tạo nên bức tường thành vững chắc để giữ gìn, bảo vệ quê hương, đất nước, bảo vệ những thành quả do mình tạo dựng nên. Ông cha ta, từ sự hưng vong của các triều đại, từ các cuộc kháng chiến oanh liệt chống ngoại xâm đã đúc rút, khẳng định và nhắc nhở các thế hệ cháu con muôn đời sau: chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân; khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách để giữ nước; nước phải lấy dân làm gốc, gốc có vững thì cây mới bền. Có dân là có tất cả, mất dân là mất tất cả.
Dân tộc ta yêu hòa bình, luôn mong muốn được sống trong hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; luôn mong muốn hòa hiếu, hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng và tất cả các nước trên thế giới. Dân tộc ta chỉ buộc phải cầm súng để chống lại kẻ thù xâm lược, bảo vệ tự do, độc lập, chủ quyền quốc gia của mình. Các chiến công oanh liệt của dân tộc ta, được thế giới ngưỡng mộ, đều là chiến công trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh với biết bao đau thương, biết bao hy sinh xương máu, chúng ta mong muốn tắt mọi ngọn lửa chiến tranh để hòa bình đến với mọi dân tộc, mọi quốc gia trên thế giới. “Thương người như thể thương thân”, điều gì chúng ta không muốn đến với mình thì cũng không muốn xảy ra với người khác và chúng ta lại càng không làm với người khác. Đó là đạo lý Việt Nam, nhân nghĩa Việt Nam, khí phách Việt Nam.
Ngày nay, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, nhân văn của dân tộc, phù hợp với tính chất của thời đại, đất nước ta, nhân dân ta hội nhập thế giới, luôn mong muốn có quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị của nhau, cân bằng lợi ích, các bên cùng có lợi, vì hòa bình, ổn định và phát triển của Việt Nam, của khu vực và của toàn thế giới. Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đặc biệt là, trước những diễn biến phức tạp trong khu vực, những âm mưu và hành động xâm chiếm, gây nên tranh chấp trên Biển Đông, đe dọa chủ quyền biển, đảo của đất nước ta, chúng ta kiên quyết phản đối. Với chúng ta, chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là tài sản vô giá của cha ông ta để lại, thế hệ chúng ta hiện nay có nghĩa vụ giữ gìn, bảo vệ để truyền cho các thế hệ con cháu. Kế thừa truyền thống yêu hòa bình, hòa hiếu, nhân nghĩa của dân tộc, chúng ta kiên trì giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển đất nước ta, hòa bình, ổn định trong khu vực; bảo đảm tự do, an ninh, an toàn trên tuyến hàng hải quan trọng hàng đầu thế giới. Chính nghĩa, lẽ phải thuộc về dân tộc ta. Chúng ta nêu cao chính nghĩa sáng ngời để đoàn kết, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, đồng bào trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài; để tranh thủ, thu hút sự ủng hộ rộng rãi, mạnh mẽ của các nước, của cộng đồng quốc tế đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ta.
Biển đảo Việt Nam là  một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của mọi người dân Việt Nam là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. Biển nước ta luôn gắn với những giá trị thiêng liêng tâm linh và lịch sử: truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ, những chiến công lịch sử Bạch Đằng, Vân Đồn xưa, Cồn cỏ, đường huyền thoại Hồ Chí  Minh trong kháng chiến chống Mỹ… đã cấu thành những thành tố thuộc về dân tộc nâng đỡ sức mạnh tinh thần cho muôn thế hệ. Biển nước ta giàu tài nguyên thiên nhiên, là nơi nương tựa của hàng chục triệu người dân đất Việt, là không gian sinh tồn của dân tộc, là địa bàn chiến lược trong bảo vệ  và phát triển đất nước. Do vậy bảo vệ chủ quyền và phát huy tiềm năng biển đảo là mệnh lệnh của Tổ quốc cho mỗi người Việt Nam. Nhân dân Việt Nam luôn ý thức được rằng biển đảo luôn là một phần máu thịt rất thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc thân yêu. Tình yêu đất nước, hướng về biển đảo quê hương của nhân dân Việt Nam còn được thể hiện qua những bài viết, những dòng suy nghĩ chân thật thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, quyết tâm góp một phần công sức của mình cho việc bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương. Nhân dân ta yêu chuộng hòa bình, là một dân tộc quật cường, đầy tính nhân văn, khi thời bình thì phát huy nội lực phát triển đất nước, khi xuất hiện nguy cơ chiến tranh xâm lược thì kiên quyết đứng lên bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải. Mỗi khi đất nước đứng trước họa xâm lăng, sự đoàn kết toàn dân sẽ được nâng cao. Truyền thống yêu nước luôn trong mỗi người và nó được khơi dậy mạnh mẽ khi đất nước lâm nguy.
Hiện nay, các thế lực thù địch lại đang lợi dụng những diễn biến phức tạp trên biển Đông, nhất là từ khi Trung Quốc ngang nhiên tôn tạo các bãi đá cạn thành các đảo nhân tạo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam để kích động biểu tình, bạo loạn, gây tiếng vang, chúng đẩy mạnh các hình thực hoạt động, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài liên kết, móc nối với các phận tử cơ hội chính trị, phản động, các hội, nhóm hoạt động bất hợp pháp trong nước, hà hơi, tiếp sức, tài trợ tài chính, mở các cuộc thi trên mạng để khuyến khích viết bài xuyên tác, bôi nhọ, thổi phồng, phủ nhận chủ trương, đường lối đối ngọại của Đảng và Nhà nước ta…kích động quần chúng nhân dân, nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên xuống đường biểu tình, bạo loạn gây mất an ninh, trật tự. Chúng lợi dụng lòng yêu nước, nhận thức chính trị còn non kém của một bộ phận thanh niên, sinh viên để chúng có thể tập dượt chính trị cho cuộc “thử” thái độ của quần chúng nhân dân. Cùng với đó, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề Biển Đông tung các bài viết lên mạng xã hội có nội dung phản động cực đoan nhằm bóp méo sự thật về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta giải quyết tình hình căng thẳng trên biển Đông với các tiêu đề giật gân, gây tò mò và lợi dụng tâm lý thích khám phá của độc giả ban đọc để tuyên truyền xuyên tạc chống phá. Hơn ai hết, tất cả chúng ta đều biết, Đảng và Nhà nước ta đã và đang xác định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của Biển Đông, đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách phát triển và bảo vệ chủ quyền biển đảo theo hướng có lợi nhất. Trong chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược về biển, về an ninh quốc phòng…Đảng và Nhà nước đã vạch rõ những nội dung then chốt để phát triển và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Rõ ràng, vấn đề phát triển và bảo vệ biển đảo không phải là chuyện một sớm, một chiều mà phải có các bước đi đúng đắn, phù hợp. Bên cạnh đó, chúng ta cũng liên tiếp phản đối quyết liệt hành động leo thang của các nước có liên quan, giữ vững phương châm giải quyết tranh chấp thông qua con đường ngoại giao. Do đó, những việc làm của chúng ở trên chẳng qua cũng chỉ là mực đích khuếch trương thanh thế, kiếm tiền bố thí từ những kẻ ngoại bang đang hang ngày, hang giờ chống phá đất nước ta, chứ không phải vì “lợi ích của dân tộc, cho dân chúng…”như chúng tuyên bố.
Từ nhận thức như vậy, chúng ta phải khẳng định rằng: biển, đảo là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam là nhiệm vụ thường xuyên và là vấn đề mang tính cấp bách hiện nay, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi người dân. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động mọi nguồn lực trong nước và quốc tế, đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận chính trị, ngoại giao và pháp lí, nhất định chúng ta sẽ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới phát triển đất nước, cùng nhân loại tiến bộ chung sức xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, thịnh vượng.

Thành Công

Hãy thể hiện cho đúng "lòng yêu nước"

Thành Công
Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, không ít thăng trầm của lịch sử, dân tộc Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách làm nên những chiến công hiển hách. Khi lòng yêu nước rực cháy trong mỗi người dân, lớp lớp cha anh kế tiếp nhau đã đập tan mọi cuồng vọng của quân xâm lược trong suốt chiều dài lịch sử, bảo vệ nền văn hóa và quyền tự chủ của dân tộc. Đây chính là điều kỳ diệu của dân tộc Việt Nam. Lòng yêu nước là yếu tố cốt lõi chi phối đời sống tinh thần, là nền tảng tạo nên tâm hồn, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam. Mỗi khi đất nước lâm nguy, lòng yêu nước như được nhân lên gấp bội, kết thành khối vững chắc tạo nên sức mạnh vô song. Do vậy, lòng yêu nước là tài sản thiêng liêng gắn với niềm tự hào, tự tôn dân tộc, là phẩm giá Việt Nam cần được bảo vệ, phát huy và cũng tránh bị ngộ nhận, lợi dụng. Lòng yêu nước Việt Nam mang khí phách, tâm hồn dân tộc với ý chí kiên cường và tư tưởng nhân văn sâu sắc. Tư tưởng nhân văn của lòng yêu nước cũng được thể hiện trong các cuộc chiến bảo vệ quyền tự chủ mang dấu ấn đặc sắc Việt Nam. Lịch sử dân tộc cũng đã trải qua những khúc quanh đau đớn. Khi lòng dân chia lìa cũng là lúc đất nước lâm nguy, ngoại bang đô hộ, trăm họ lầm than. Nền tự chủ của dân tộc được tạo dựng bằng máu và nước mắt của lớp lớp người Việt. Do vậy, dân tộc Việt Nam hiểu hơn ai hết giá trị của độc lập, hòa bình…
Ngày nay, toàn cầu hóa là xu thế tất yếu, đất nước ta đã, đang phải đối mặt với những thách thức mới, những hiểm họa mới. "Biên giới mềm", "quyền lực mềm" không còn là một khái niệm được nói đến trong chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật... mà đã trở thành chiến lược của nhiều quốc gia với những bước triển khai cụ thể. Chưa kể, hội nhập sâu rộng cùng thế giới, Việt Nam sẽ phải chấp nhận những "luật chơi" khắc nghiệt trong bối cảnh tiềm lực chưa đủ mạnh để khống chế, gạt bỏ hệ lụy khi cánh cửa thị trường trong nước ngày càng mở rộng. Nguy cơ đang hiện hữu, lòng yêu nước cần được đặt ra những nội hàm và cách thức thể hiện mới. Xâm nhập bằng văn hóa, chiếm lĩnh thị trường bằng hàng hóa, đẩy những phân khúc tạo giá trị thấp và công nghệ lạc hậu, ô nhiễm sang các quốc gia kém phát triển chính là những yếu tố của biên giới "mềm". Trong khi hội nhập quốc tế, chúng ta đã phải đối mặt với một thực tế nghiệt ngã từ nhiều luồng văn hóa đan xen, nhất là lối sống phương Tây… Sự xa hoa, sính ngoại, tư duy hưởng thụ, “sống gấp” đang hằng ngày tác động, chi phối đời sống tinh thần của người Việt, đặc biệt là giới trẻ. Văn hóa truyền thống đang bị cuốn trong những cơn bão táp du nhập và chúng ta phải trực diện với một thực tế là những giá trị đã từng làm nên phẩm giá Việt Nam đang bị pha loãng trong lối sống thực dụng, vô cảm. Khẳng định cái riêng của dân tộc trong cái chung của nhân loại cũng là khẳng định bản lĩnh Việt Nam. Đây chính là trách nhiệm của mỗi người dân nước Việt và cũng là một cách biểu hiện lòng yêu nước. Lòng yêu nước Việt Nam cần được thể hiện cao độ bằng sức sáng tạo, bằng mỗi việc làm trên tinh thần vì dân tộc, vì cộng đồng. Thách thức phía trước, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo trong từng bước đi, từng hành động để xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc Việt Nam, tránh được những hệ lụy xã hội, và xây dựng một nền kinh tế hùng mạnh, tự chủ đủ sức vượt qua được rủi ro và hệ lụy từ phía ngoài đang tác động mãnh liệt vào trong nước. 
Chính vì vậy, yêu nước, mỗi người cần sống có trách nhiệm hơn, trong suy nghĩ và hành động. Mỗi người Việt Nam dù ở vị trí nào, ở bất cứ đâu hãy cố gắng cân nhắc lợi - hại, đúng - sai, giữ nhiệt huyết nhưng phải tỉnh táo để không suy nghĩ ích kỷ và tự mãn. Lòng yêu nước chân chính khác xa với sự mù quáng. Trước những vấn đề nhạy cảm và phức tạp liên quan đến chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, nhất là thời gian gần đây, từ khi Trung Quốc ngang nhiên tôn tạo các bãi đá cạn thành các đảo nhân tạo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đứng trước tình thế đó, lòng yêu nước và ý thức dân tộc lại trỗi dậy mạnh mẽ trong mỗi người dân nước Việt. Nhiều nhân sĩ, trí thức đã kiến nghị với Đảng, Nhà nước nhiều ý kiến tâm huyết để bảo vệ và phát triển đất nước. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những tài liệu lịch sử quan trọng giúp người dân Việt Nam và bạn bè thế giới hiểu rõ hơn chủ quyền quốc gia của chúng ta trên Biển Đông. Tại các diễn đàn quốc tế, nhiều nước trên thế giới đã đứng về phía Việt Nam tôn trọng sự thật, chân lý trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước. Đối lập với cuộc đấu tranh chính nghĩa vì lợi ích dân tộc của Đảng, Nhà nước và những người Việt Nam yêu nước chân chính, các thế lực thù địch và những phần tử chống đối đang ra sức lợi dụng lôi kéo người dân tụ tập, hò hét, nhân danh lòng yêu nước để gây mất trật tự công cộng, truyền bá những tư tưởng xấu nhằm làm rạn vỡ lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, kích động hằn thù dân tộc, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân. Do vậy, mỗi người Việt Nam hãy gạt bỏ những định kiến cá nhân, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, tỉnh táo, nhận diện đúng đắn các vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong bối cảnh cụ thể, đồng thời nhận thức đúng xu thế tất yếu khách quan của thời đại. Chúng ta hãy thể hiện lòng yêu nước của mình bằng tình cảm nhiệt huyết nhưng tỉnh táo, quan tâm đến vận mệnh của dân tộc, không để bị lạm dụng, bị lôi kéo vào những hội, nhóm trá hình, bất hợp pháp để lợi dụng nhân danh lòng yêu nước nhưng thực chất là gây tổn hại tới sức mạnh và lợi ích của đất nước, tiếp tay cho những âm mưu kêu gào yêu nước nhưng thực chất là giúp cho các thế lực thù địch, tập hợp lực lượng chống đối, gây rối, làm mất ổn định xã hội… dân tộc Việt Nam chúng ta cần tỉnh táo, nêu cao tinh thần chính nghĩa, nêu cao vai trò của một nước có nền văn hiến, có nền văn hóa lâu đời, chống hành vi xâm phạm trái phép đến độc lập chủ quyền của dân tộc. Đó là nguyên tắc bất biến. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cái bất biến của chúng ta hiện nay chính là độc lập, chủ quyền của dân tộc mình. Là của mình thì một tấc đất trên bộ, một con sóng ngoài biển chúng ta cũng phải giữ. “Ứng vạn biến” là chúng ta phải linh hoạt mềm dẻo, theo tinh thần “đoàn kết, đồng thuận trong xã hội, tỏ cho thế giới biết rằng dân tộc Việt Nam là dân tộc hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển”. Đó là tư tưởng xuyên suốt từ thuở dựng nước, giữ nước của ông cha ta. Đến thời đại Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam lại tiếp tục kế thừa và phát huy những bài học truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Tôn trọng hòa hiếu, gìn giữ hòa bình và cũng sẵn sàng đập tan mọi ý đồ xâm lăng, chia rẽ dân tộc là những đúc kết từ mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc và còn nguyên giá trị đối với đất nước và con người Việt Nam hôm nay. Mỗi người dân nước Việt hãy kết thành khối vững chắc, thống nhất trong tư duy và hành động, phát huy lòng yêu nước, tính sáng tạo bằng mỗi việc làm cụ thể có lợi cho chính mình, cho cộng đồng, có ích cho đất nước. Lòng yêu nước chân chính trên tinh thần yêu chuộng hòa bình, sự tôn trọng lẫn nhau dựa trên các giá trị mang tính chuẩn mực quốc tế sẽ giúp cho dân tộc giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời bảo đảm hòa bình và sự hưng thịnh của các quốc gia và của toàn nhân loại trong một thế giới toàn cầu hóa, hòa bình và thịnh vượng.

Phải có cái nhìn khách quan về "dân chủ", "nhân quyền"


Trung Dũng
Với góc nhìn của một công dân đang được thừa hưởng những giá trị đích thực của xã hội. Từ nhận thức và hiện thực cuộc sống đang diễn ra trên đất nước này, tôi xin trao đổi và chia sẻ một số ý kiến của riêng mình xoay quanh vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để độc giả bạn đọc gần xa cùng suy ngẫm: theo tôi, một xã hội chỉ tốt đẹp khi nhân quyền được tôn trọng và được thực hiện công bằng trong xã hội dưới sự bảo trợ của pháp luật; và ngược lại không thể có một chế độ xã hội tốt đẹp khi nhân quyền bị chà đạp, không được pháp luật bảo vệ, trong đó nhân quyền là giá trị nổi bật nhất của nhân loại, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người ta sinh ra và mãi mãi tự do và bình đẳng về quyền. Các quyền ấy là: tự do, tư hữu, an ninh và chống áp bức”. 
Chúng ta nhận thấy rất rõ ràng, trong thời đại ngày nay nhân quyền chỉ được bảo đảm bởi nhà nước pháp quyền tiến bộ, gắn liền với chế độ xã hội và gắn với độc lập dân tộc, tự do của con người. “Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của con người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”. Bảo đảm thực thi nhân quyền bằng pháp luật quốc gia gắn với bảo đảm giá trị nhân quyền theo pháp luật quốc tế: “Chăm lo con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mọi người; tôn trọng và thực hiện điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia”. Do đó, với nỗ lực trong việc giải quyết các vấn đề về xoá đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách an sinh xã hội, tích cực phòng chống thiên tai, dịch bệnh và đấu tranh chống chiến tranh phi nghĩa, dân tộc Việt Nam tiếp tục chủ trương giữ vững môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm vững chắc độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Trên cơ sở bảo đảm sự thống nhất quyền con người với quyền dân tộc, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định sự nghiệp giải phóng con người phải gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, quyền con người chỉ có trong độc lập dân tộc. Để giành quyền tự do của mỗi con người, trước hết phải giành quyền tự do cho cả dân tộc; phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa tự quyết dân tộc và thực hiện quyền con người của mỗi cá nhân: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Vì vậy, không thể có cái gọi là nhân quyền cao hơn chủ quyền mà chỉ có sự thống nhất biện chứng giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia.
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam có trách nhiệm bảo đảm nhân quyền cho công dân Việt Nam. Trước hết là “Phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân và các điều kiện để mọi người phát triển toàn diện. Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển đất nước”. Quan tâm chăm lo quyền và lợi ích cho công dân, bảo đảm cho công dân được thực hiện quyền bình đẳng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Bảo đảm sự thống nhất chặt chẽ giữa nhân quyền với chủ quyền; giữa nhân quyền với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bảo đảm cho công dân Việt Nam được hưởng các giá trị tiến bộ, văn minh về nhân quyền; thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; tự do, bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật. Đảng, Nhà nước tôn trọng và cầu thị trong việc tiếp thu tinh hoa, giá trị nhân quyền; tích cực đấu tranh với tư tưởng, hành động áp bức nhân quyền, coi nhân quyền cao hơn chủ quyền và hành vi lợi dụng nhân quyền để chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Kiên quyết đấu tranh với những luận điệu, hành động xuyên tạc, vu cáo thực trạng nhân quyền Việt Nam trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, pháp luật. Đảng, Nhà nước nhận rõ trách nhiệm bảo vệ, đấu tranh với các tổ chức, cá nhân xuyên tạc nhân quyền ở Việt Nam; có chủ trương, chính sách bảo đảm quyền, nghĩa vụ công dân, quyền bình đẳng trước Hiến pháp, pháp luật; tôn trọng, bảo đảm quyền tự do cá nhân; bảo đảm nhân quyền với chủ quyền của quốc gia, dân tộc.
Đã nhiều năm nay, một thực tế cho thấy luôn có “các thế lực thù địch nào đó” lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” và không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào, sử dụng nhân quyền như một mục tiêu xuyên suốt để phá hoại cuộc sống hoà bình, ổn định của nhân dân Việt Nam. Mục tiêu, thủ đoạn của họ là thổi phồng, bóp méo các sự kiện, xuyên tạc sự thật về nhân quyền để kích động dân chúng chống Đảng, chống Nhà nước và đặc biệt nguy hiểm hơn là chống lại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc. Bằng việc tự ban hành các đạo luật, nghị quyết, tự nhào nặn ra các báo cáo đánh giá nhân quyền với dụng ý xấu, họ đã xuyên tạc trắng trợn tình hình nhân quyền, sự thật và những tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam. Bất chấp pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, họ ngang nhiên coi nhân quyền cao hơn chủ quyền, lợi dụng nhân quyền để can thiệp thô bạo vào nhiều vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia. Luận điệu của họ là thường xuyên kích động, xuyên tạc bóp méo, biến không thành có, cố tình thổi phồng để đánh lừa và gây hoang mang trong dư luận xã hội... Gây căng thẳng, mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân với Đảng, với chính quyền và tạo ra những điểm nóng về chính trị - xã hội. Thâm hiểm hơn là kích động gây mâu thuẫn, xung đột giữa các dân tộc ở trong nước, gây tâm lý hằn thù dân tộc; kích động, gây mâu thuẫn giữa Việt Nam với các quốc gia, dân tộc có chủ quyền nhằm chống phá chính sách mở cửa, đối ngoại hoà bình của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thủ đoạn của họ rất tinh vi, xảo quyệt; xuyên tạc, kích động tâm lý về bất công, bất bình đẳng xã hội, gieo rắc hận thù, tạo mâu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp xã hội, các bộ phận dân chúng với nhau và với các cấp chính quyền.
Họ lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá dân tộc Việt Nam, lấy các giá trị dân chủ, nhân quyền của phương Tây để áp đặt cho Việt Nam. Dùng chiêu bài dân chủ, họ liên tục có những hành động bịa đặt, vu cáo Đảng, Nhà nước áp bức dân chủ; nhân dân Việt Nam không được thực hiện quyền tự do dân chủ, nhân quyền, tố cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, đưa vấn đề dân chủ, nhân quyền thành điều kiện trong việc giải quyết các quan hệ quốc tế. Đặc biệt trong bối cảnh thế giới hiện nay có nhiều vấn đề phức tạp về dân tộc, tôn giáo, họ thực hiện âm mưu xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo, đàn áp tôn giáo. Họ mượn cớ và tổ chức nhiều cuộc điều tra về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam nhằm can thiệp ngày càng sâu hơn, gây sức ép và kích động hằn thù dân tộc, chia rẽ tôn giáo. Thường xuyên kích động tư tưởng ly khai, tự trị, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo thành lập các tổ chức chính trị đối lập nhằm phá vỡ sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống chính quyền, chống chế độ,....
Nhưng sự thật vẫn là sự thật và bản thân nó chứa đựng chân lý, không ai có thể dùng ý muốn chủ quan để áp đặt. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ở Việt Nam do Đảng Cộng sản khởi xướng và lãnh đạo gần 30 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Vị thế của đất nước Việt Nam ngày càng được nâng cao, đời sống của gần 90 triệu người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện. Khách quốc tế, bạn bè khắp năm châu đến Việt Nam đều thấy một sự thật: Đất nước Việt Nam đã thay da đổi thịt; dù còn nhiều việc phải làm, đời sống chưa thật sự khá giả, song chính trị - xã hội của đất nước luôn ổn định, cuộc sống thật sự có hòa bình, tự do, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, nhân dân thực sự là chủ nhân của đất nước. Nếu ai đó vẫn “ngựa quen đường cũ”, vẫn lên lớp về “dân chủ, nhân quyền”, xin hãy bớt chút thời gian nghiên cứu kỹ về lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, hơn thế nữa hãy đến thăm và tận mắt chứng kiến đất nước Việt Nam đổi thay, phát triển, yêu chuộng hòa bình, là điểm đến thân thiện, an toàn để có cái nhìn khách quan về “dân chủ”, “nhân quyền” ở Việt Nam, đấy chính là minh chứng cụ thể rõ rang nhất, để chia sẻ và đồng hành cùng dân tộc Việt Nam quyết tâm xây dựng một xã hội đốt đẹp “của dân, do dân và vì dân”, góp sức cùng các dân tộc trên toàn cầu xây dựng một thế giới thực sự bình đẳng, hòa bình, hữu nghị và cùng phát triển.

Sức mạnh hòa hợp dân tộc

Công Lý
Hòa hợp dân tộc được xác định như là một trong những yếu tố cấu thành khối đại đoàn kết dân tộc, đưa tới sức mạnh giúp chúng ta đạt được những thành tựu không thể phủ nhận trong 40 năm qua. Ngày nay, trong thời kỳ mới của sự phát triển đất nước, hòa hợp dân tộc vẫn tiếp tục được khẳng định để từ đó làm nên sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, hoàn thành các nhiệm vụ trọng đại trước yêu cầu đòi hỏi của đất nước. Truyền thống đó đã được dân tộc ta hun đúc từ ngàn đời, ngay cả khi đã đánh bại các thế lực ngoại xâm, cha ông chúng ta vẫn có những việc làm mang đậm tinh thần nhân văn cao cả nhằm "Sửa hòa hiếu cho hai nước - Tắt muôn đời chiến tranh". Và cách đây hơn 500 năm sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh vừa giành thắng lợi, truyền thống nhân nghĩa ấy được Nguyễn Trãi khẳng định: "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn -Lấy chí nhân để thay cường bạo".
Để hòa hợp dân tộc. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định quan điểm, triển khai nhiều chủ trương, hành động thiện chí để mọi cá nhân, nhóm xã hội vốn từng hiểu lầm hoặc khác biệt chính kiến vẫn có thể cùng hướng tới mục tiêu chung có lợi cho đất nước. Do đó, bất kỳ cá nhân, nhóm xã hội nào nếu thật sự có niềm tin vào mục tiêu chung thì khi hòa hợp sẽ không đưa ra điều kiện ràng buộc, không đòi hỏi phải thay đổi theo ý muốn của mình. Chúng ta thực hiện hòa hợp dân tộc vì đó là một yếu tố bảo đảm cho hiện tại và tương lai của đất nước, huy động được mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", và góp phần kiến tạo, bảo vệ sự ổn định, hòa bình, thịnh vượng với các dân tộc khác trên thế giới.
Cùng với thời gian, từ thực tế của sự phát triển đất nước, từ tinh thần hòa hợp với thiện chí chân thành của Nhà nước và đồng bào trong nước, nhận thức của rất nhiều người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài đã thay đổi. Như ý kiến của Davis Nguyễn - người Mỹ gốc Việt, trên Vietweekly: Trước đây ông là một người chống cộng cực đoan nhưng sau chuyến đi Trường Sa, tận mắt chứng kiến tinh thần vượt gian khổ của các chiến sĩ trẻ, ông đã suy nghĩ rất nhiều và nói: "Một ngày nào đó những kiều bào ở hải ngoại, bốn triệu rưỡi, năm triệu người đồng lòng bắt tay, hợp tác, về đây xây dựng một đất nước còn nhiều thiếu thốn, một đất nước thân yêu,... bằng những con tim của mình". Đã có nhều lần trở về Việt Nam nhưng đối với chị Kim Ninh Giang, kiều bào Đức, mỗi lần đều có cảm giác rất đặc biệt. Theo chị Kim Ninh Giang, tất cả người Việt Nam, dù đi đâu cũng không thể quên được mảnh đất Việt Nam, dù nó còn khó khăn thật nhưng rất dễ thương và nồng ấm tình người. Năm nay chị nhận thấy quê hương mình đã có có nhiều thay đổi rõ rệt, nhất là giao thông đã có nhiều con đường mới rất đẹp; được gặp nhiều kiều bào khắp nơi, gặp những người dân Việt Nam gần gũi. Niềm vui, hạnh phúc này, chị sẽ truyền đạt lại với những con người nơi chị sinh sống, để chứng minh được quê Việt Nam đang đổi mới. Với những kiều bào lần đầu tiên được về quê hương, bà con có cảm giác ngỡ ngàng, bất ngờ xen lẫn sự thú vị. Bà Đinh Kim Dung, kiều bào Áo cho biết: Bà cảm thấy rất bất ngờ với sự nồng nhiệt, nồng hậu trước tình cảm của lãnh đạo đất nước đối với tất cả các kiều bào. Điều này làm cho bà tin tưởng hơn vào những công việc, dự định kế tiếp tại Việt Nam trong thời gian tới. Tiến sỹ Nguyễn Quốc Bình, kiều bào Canada, trở về nước cách đây 10 năm, hiện là Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: "Khi nhận nhiệm vụ mở trung tâm, tôi trở lại Canada, bán hết nhà cửa, cùng vợ quay trở lại Việt Nam. Tôi làm vậy để khi gặp khó khăn trong việc xây dựng trung tâm ở Việt Nam, tôi không nghĩ đến phương án quay trở lại Canada mà phải làm sao ở lại để xây dựng bằng được trung tâm". Trăn trở hơn với việc thu hút nguồn lực kiều bào trên thế giới về nước, ông Johnathan Hạnh Nguyễn, Việt kiều Philippines, Chủ tịch Tập đoàn Liên Thái Bình Dương, cho rằng: "Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã thể hiện rõ người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời với đất nước, đồng thời đã có những chính sách cởi mở thông thoáng đối với kiều bào. Tuy nhiên, những những chủ trương đưa ra cần phải xuống cơ sở, quận huyện để đến được từng kiều bào nhiều hơn nữa. Mặt khác, đối với trí thức kiều bào, Việt Nam cần có những chính sách, chế độ cụ thể, rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức kiều bào về làm việc, nghiên cứu". Ông Johnathan Hạnh Nguyễn tin rằng, với những chính sách cởi mở của Đảng và Nhà nước, ngày càng nhiều kiều bào, đặc biệt là các nhà trí thức, doanh nhân kiều bào thành đạt về nước làm việc, đầu tư. Cùng trăn trở trên , ông Nguyễn Trí Dũng, Việt kiều Nhật Bản cho rằng: "Sự thay đổi mạnh mẽ của Việt Nam là những kỳ tích Thánh Gióng. Tuy nhiên, để đất nước tiến xa hơn, bền vững hơn thì chúng ta cần thêm nhiều kỳ tích Thánh Gióng nữa. Lực lượng hơn 4,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài là một nguồn năng lượng quan trọng, rất cần được khơi gợi, phát huy…”. Còn nhiều nhiều nữa những kiều bào ta như thế, tuy nhiên trong khôn khổ bài viết xin chia sẻ một số thông tin dẫn chứng để khẳng định về thực tiễn hòa hợp dân tộc đang hiện hữu trên đất nước Việt Nam.
Tuy nhiên, do bối cảnh phức tạp của khu vực và thế giới hiện nay, để quan điểm đoàn kết dân tộc phát huy được ý nghĩa xã hội rộng rãi, chúng ta đã phải giải quyết một số vấn đề phức tạp; mà nổi lên là tình trạng có người hiểu lầm về cách mạng, rồi một số cá nhân, một vài nhóm xã hội vì lạc bước tinh thần mà đã hiềm khích, phá hoại sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc, vẫn những thế lực cực đoan ở nước ngoài và những phân tử cơ hội trong nước, có những luồng dư luận, nhất là viết bài tuyên truyền xuyên tạc sai sự thật về hòa hợp dân tộc ở Việt Nam, cổ súy cho những luồng tư tưởng đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Trong số đó, chúng ta cũng thông cảm, chia sẻ với một bộ phận chỉ vì thiếu thông tin hoặc bị xúi bẩy và vì lợi ích trước mắt mà nhắm mắt làm liều, chỉ mong họ quay đầu lại để đồng hành cùng dân tộc, đất mẹ luôn giang tay đón họ nếu họ biết ăn năn hối cải. Trong thời điểm hiện nay, khi vận mệnh quốc gia, chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc đang bị xâm phạm, khi mà Trung Quốc ngang nhiên tôn tạo trái phép các bãi đá chìm thành các đảo nhân tạo trong quần đảo Trường sa của Việt Nam; hơn lúc nào, mỗi người con đất việt, dù trong nước hay đang sinh sống ở nước ngoài hãy đoàn kết một lòng vì Tổ quốc thân yêu, bằng vật chất dù là nhỏ nhất hoặc là tinh thần lên tiếng đấu tranh bằng pháp lý, lẽ phải và cùng công luận yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ dân tộc Việt Nam, trước sự ngang ngược của chính quyền Trung Quốc đang gây ra ở quần đảo Trường sa của Việt nam. Hãy vượt qua những định kiến khắc nghiệt, sự “hòa hợp” theo đúng nghĩa “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” là một xu thế không thể cưỡng lại được. Mọi người dân Việt Nam trong nước, hay đang ở nước ngoài hãy cùng chung tay xây dựng tương lai tốt đẹp cho dân tộc.
Đúng vậy, hòa bình và đoàn kết để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang là khát vọng của mọi người dân Việt Nam, và muốn dân tộc cường thịnh, dân sinh hạnh phúc, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, chúng ta cần hòa hợp một cách chân thành như vậy. Chỉ có hòa hợp trên tinh thần đại nghĩa, đại nhân đức, đại dân tộc mới tập hợp được lòng người, tập hợp được những người tài phục sự tổ quốc, xây dựng được đất nước Việt Nam hùng cường. Sức mạnh của hòa hợp là khát vọng, là con đường sống của dân tộc Việt Nam.

SỰ THẬT LỊCH SỬ BÁC BỎ MỌI SỰ XUYÊN TẠC.

Tháng 4-2015, Nhà nước và nhân dân Việt Nam tưng bừng kỷ niệm Ngày Chiến thắng. Gọi là ngày Chiến thắng, bởi đây là sự chiến thắng của chính nghĩa trước sự phi nghĩa, bạo tàn.
Cứ đến ngày này, không ít các thế lực, cá nhân thiếu thiện chí lại tổ chức “Hội thảo”, phỏng vấn, Hội nghị bàn tròn, viết bài,… tung lên các trang mạng chống Việt Nam; trong đó, đáng tiếc có cả những tờ báo điện thử “nhớn”, như” VOA, BBC, RFA,… để xuyên tạc giá trị vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam và giá trị lịch sử của Ngày Chiến thắng 30-4-1975. Nhưng “bàn tay chẳng che được mặt trời”, sự thật lịch sử của đất nước Việt Nam đã bác bỏ mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc.
Ngày này cách đây 40 năm (30-4-1975-30-4-2015), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam cùng với các tầng lớp nhân dân đã đập tan bộ máy ngụy quân, ngụy quyền tay sai của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từ đây dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, bất công; quyền con người được đảm bảo ngày càng tốt hơn; người dân được sống trong độc lập, tự do hướng tới xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh. Ngày Chiến thắng 30-4 đã viết tiếp trang sử vàng trong tiến trình dựng nước và giữ nước như một mộc son chói lọi nhất. Việt Nam đã trở thành biểu tượng cho khát vọng độc lập, tự do, thống nhất, tiến bộ và phát triển của loài người tiến bộ trên thế giới. Đó là một sự thật lịch sử, không một thế lực nào có thể bác bỏ được.
Thế mà, có những thế lực, có một số ít kẻ đang tâm xuyên tạc thực tế lịch sử đó. Với nhiều thủ đoạn khác nhau, chúng ra sức xuyên tạc bản chất cuộc chiên tranh. Chúng cho rằng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam (1954-1975) chỉ là cuộc chiến tranh ủy nhiệm; là cuộc nội chiến giữa những người Việt Nam; là cuộc đối đầu ý thức hệ,…(!) Chúng tuyên truyền rằng, ngày 30-4-1975 sẽ có cuộc “tắm máu” ở Sài Gòn và toàn miền Nam do cộng sản gây ra,… Đặc biệt, có những kẻ tự nhận mình là “nhà lịch sử”, “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho nhân quyền”,… lại cho rằng, chỉ khi nào chế độ cộng sản ở Việt Nam bị lật đổ thì nhân dân Việt nam mới được giải thoạt khỏi mọi sự khổ đau! Hay, chiến thắng của dân tộc ta trước cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ là nguyên nhân hiện nay đất nước đứng trước “họa ngoại bang thống trị”, của sự chia ly dân tộc, của đói nghèo,… Thực ra, chúng ta ai cũng biết đó là luận điệu của những thế lực, những kẻ chống cộng điên cuồng, chúng tìm mọi cách để hạ thấp giá trị lịch sử của Ngày Chiến thắng 30-4, lung lạc ý chí tự lực, tự cường, độc lập, tự do, thống nhất của dân tộc Việt Nam, tiến tới âm mưu hạ bệ “thần tượng”, lái con thuyền Việt Nam đi theo con đường của chúng. Thật hoang đường. Nhân dân Việt Nam và nhân yêu chuộng hòa bình trên thế giới chẳng ai tin vào những luận điệu xuyên tạc ấy và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
40 năm qua, nhiều nhà lịch sử, văn hóa, nhà khoa học, chính trị gia, nhà quân sự ở cả Việt Nam, Mỹ và trên thế giới đã đi tìm nguyên nhân thất bại của Mỹ ở Việt Nam. Dẫu đứng trên lập trường nào, họ đều thống nhất ở một điểm: Mỹ thua, bởi Mỹ không hiểu Việt Nam. Chính quyền Mỹ gây ra cuộc chiến tranh ở Việt Nam – một hành động phi lý, đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân Mỹ và xu thế phát triển của thế giới. Đó là cuộc chiến tranh phi  nghĩa. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là chính nghĩa. Chính nghĩa tất thắng phi nghĩa. Hơn nữa, nhân dân Việt Nam anh hùng, có Quân đội nhân dân anh hùng, được lãnh đạo bởi một đảng mác-xít chân chính, có đường lối, phương pháp đấu tranh chính trị, quân sự đúng đắn, khoa học, tập hợp được sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại.
 Năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã làm nên một chiến thắng Điện Biên phủ, đánh tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chính phủ Pháp phải ký vào Hiệp định Giơ-ne-vơ. Hiệp định đã quyết định nhiều vấn đề về Việt Nam; trong đó, quy định rõ, thực dân Pháp phải rút khỏi Việt nam, năm 1956, sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất trên cả nước, bầu ra chính phủ thống nhất dưới sự chứng kiến của các tổ chức quốc tế, Việt Nam là nước độc lập, tự do, thống nhất. Nhưng, với âm mưu thế chân thực dân Pháp, nhằm độ hộ Việt Nam, chính quyền Mỹ đã dựng lên chính phủ tay sai Ngô Đình Diệm, đẩy mạnh phá hoại mọi nỗ lực tổng tuyển cử. Dưới cái ô của đồng Đô la, bằng sự tàn bạo họng súng và máy chém của chế độ Ngô Đình Diệm, tổng tuyển cử đã bị phá hoại, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền Nam - Bắc. Nhân dân miền Nam Việt Nam sống dưới ách đô hộ của bọn đế quốc và tay sai Mỹ-Diệm. Mọi quyền con người của nhân dân miền Nam bị chà đạp. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu. Với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do” và khát vọng đất nước Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi, cả dân tộc Việt nam đã nhất tề đứng lên, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, quyết giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh quân và dân hai miền Nam-Bắc đã đoàn kết, vượt mọi khó khăn thử thách quyết đánh và đánh thắng các kiểu chiến tranh của Đế quốc Mỹ. Lịch sự đã ghi nhận, Mỹ đã tiến hành các chiến lược như: Chiến lược chiến tranh đặc biệt; Chiến lược chiến tranh cục bộ; Chiến lược Việt nam hóa chiến tranh,… Biết bao tỷ Đô la được giới cầm quyền nước Mỹ bơm vào miền Nam Việt Nam để hà hơi, tiếp sức cho ngụy quân, ngụy quyền; để biến thành bom đạn dội vào đầu người dân Việt Nam; để chống lại cuộc chiến “trong lòng nước Mỹ”,… Đau thương, nối tiếp đau thương. Hằng triệu, triệu người con ưu tú của dân tộc Việt nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Hằng chục vạn lính Mỹ đã chết bới cuộc chiến tranh phi nghĩa mà chính phủ của họ gây ra; nền kinh tế Mỹ chịu tổn thất nghiêm trọng; hình ảnh nước Mỹ trong con mắt của loài người tiến bộ trên thế giới thật xâu xa, ác độc. Các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ vấn đề này, thiết nghĩ chẳng cần nhắc lại.
Với quyết tâm đánh cho “Mỹ cút, ngụy nhào”, để Nam Bắc một nhà thống nhất, quân và dân ta đã “bám vào thắt lực địch mà đánh”, đánh bại các chiến lược chiến tranh hung bạo của đế quốc Mỹ. Những chiến thắng của quân và dân Việt Nam, mà điển hình là Chiến thắng Mậu Thân-1968, Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”,… đã buộc đế quốc Mỹ ký vào Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, rút quân về nước. Mỹ đã “cút”, nhưng Ngụy chưa “nhào”. Ngụy quân, ngụy quyền Sài Gon vẫn được đế quốc Mỹ hà hơi, tiếp sức bằng Đô la, vũ khí và hệ thống cố vấn quân sự, chính trị. Nhân dân miền Nam Việt Nam vẫn chịu ách đô hộ tàn bạo của ngụy quân, ngụy quyền dưới cái ô bảo trợ, gậy chỉ huy của Mỹ. Quân và dân Việt nam quyết không chịu. Để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, quân và dân Việt Nam đã liên tục tấn công và giành những thắng lợi to lớn, như: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế-Đà Nẵng,… làm rung chuyển nước Mỹ, từng bước làm tan rã tận gốc hệ thống ngụy quân, ngụy quyền. Mùa xuân 1975, dưới sự lanhc đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân nước Việt đã mở cuộc toàn bộ Tổng tiến công và nổi dậy chiến lược mùa Xuân 1975. Ngày 30-4-1975, chiến dịch giành thắng lợi, tổng thống ngụy quân, ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Miền Nam đã được giải phóng, đất nước Việt Nam nối liền một dải từ Móng Cái đến mũi Cà Mau. Từ đây, Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên thống nhất, độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội trên toàn đất nước. Đó là sự thật lịch sử mà không có thế lực nào có thể bác bỏ. Ngày Chiến thắng 30-4, đã đi vào trang vàng chói lọi thực hiện khát vọng độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do của dân tộc Việt Nam trong tiến trình dựng nước và giữ nước.
Sau bốn mươi năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ba mươi năm Đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Việt Nam đã trở thành biểu tượng mới của các dân tộc trên thế giới về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo và bảo đảm quyền con người.
Thực tế cho thấy, các tỉnh thành phía Nam đã có sự phát triển vượt bậc, diện mạo nhiều đổi thay cùng với sự đổi mới của đất nước. Số lượng các doanh ngiệp của các thành phần kinh tế đang hoạt động ở phía Nam tăng nhiều lần; hạ tầng thiết yếu phục vụ cho phát triển kinh tê-xã hội được xây dựng. Từ chỗ hạ tầng chủ yếu phục vụ chiến tranh xâm lược của Mỹ, nay đã chuyển sang phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, với sự hài hòa các phương thức vận tải, giữa hàng không, đường bộ, đường thủy và hàng hải, tận dụng được các lợi thế của đất nước. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ các nhà máy điện cũng như lưới truyền tải điện, nhất là đường dây 500kV Bắc Nam đã bước đầu giải quyết được bài toán năng lượng cho khu vực phía Nam. Từ chỗ chỉ có ngành công nghiệp cơ khí sửa chữa nhỏ, chủ yếu phục vụ cho quốc phòng, phía Nam đã hình thành được một loạt các tỉnh thành công nghiệp. Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn 40 năm về trước) chủ yếu sống bằng nguồn ngoại viện, kinh tế trong trạng thái què quặt, phục vụ nhu cầu chiến tranh đã vươn mình đứng lên trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, văn hóa, khoa học kỹ thuật của cả nước, là hạt nhân của khu kinh tế trọng điểm phía Nam và là đầu tàu kinh tế của cả nước. Hằng năm, Thành phố đóng góp khoảng 1/5 GDP của cả nước và 1/3 tổng thu sách nhà nước. Các địa phương, như: Bình Dương, Đồng Nai,… đã là những tỉnh công nghiệp. Đặc biệt, Bà Rịa-Vũng Tàu trước là một tỉnh rất nghèo nhưng nay đã hình thành một khu công nghiệp dầu khí và cụm công nghiệp dịch vụ hàng hải lớn nhất cả nước, đang hướng tới trở thành trung tâm dịch vụ hàng hải của khu vực. Bình Dương trước giải phóng miền Nam không phải là một tỉnh có vai trò lớn về công nghiệp nhưng nay đã trở thành một tỉnh công nghiệp hiện đại có tốc độ đổi thay lớn lao và là một điểm sáng trên bản đồ kinh tế Việt Nam với những thành tựu về đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Các tỉnh cực Nam Trung Bộ chuyển hướng mạnh mẽ, phát triển thương mại dịch vụ, du lịch, như: Nha Trang, Phan Thiết,... Các tỉnh miền Tây Nam Bộ với thế mạnh về nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà còn đã có đóng góp lớn lao vào thành tựu xuất khẩu 06 triệu tấn gạo, 08 tỷ Đô la thủy hải sản xuất khẩu của cả nước. Gạo Việt Nam, tôm, cá basa đã ghi dấu ấn trên bản đồ xuất khẩu thế giới. Hiện nay, Chính phủ đã quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm: Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ (Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang). Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh vai trò kết nối trung tâm, chủ lực cho toàn vùng Nam Bộ trong quá trình chuyển đổi và phát triển cơ chế kinh tế thị trường dù mức độ lan tỏa chưa như tiềm năng vốn có. Theo Tổng cục Thống kê, Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm khoảng 17% dân số, hơn 8% diện tích, sản xuất chiếm hơn 42% GDP, gần 40% kim ngạch xuất khẩu cả nước, đóng góp gần 60% ngân sách quốc gia. Đây là vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất, là trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, tài chính hàng đầu và là động lực phát triển năng động của cả nước và có tầm cỡ khu vực.
Lịch sử và hiện thực khách quan nêu trên đã bác bỏ mọi luận điệu xuyên tác của các thế lực thù địch.

Minh Quân

Về giải pháp chiến lược cho tương lai Việt Nam



Bài viết của Trần Quí Cao (TQC)  trên internet khá dài, với nội dung phong phú, đặt ra nhiều vấn đề về tiền đồ và sự nghiệp phát triển đất nước Việt Nam. Không thể không nhận thấy tác giả cũng có nhiều suy tư, có những trăn trở. Tuy nhiên, còn lẫn lộn đúng sai. Ví dụ, TQC viết: “kinh nghiệm ngàn năm chống chọi với tham vọng và ý đồ xâm lăng của Trung Quốc, kinh nghiệm 150 năm kể từ khi Pháp đến Việt Nam cho tới nay, các quan sát và chiêm nghiệm những vấn đề tranh chấp chính trị giữa các quốc gia cùng với sự phát triển của các con Rồng cất cánh trong vòng 50 năm trở lại đây, cho chúng ta bài học rằng: Việt Nam không theo ai cả, mà chỉ theo chính Việt Nam”. Đó là một ý kiến đúng, được hiểu với nội dung cơ bản là nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự cường của dân tộc ta. Nhưng kế đó, trong giải pháp, tác giả TQC lại nêu kế sách “Tham gia liên minh với Mỹ, Nhật, Úc… Người đọc không hiểu tác giả nói VN tham gia liên minh như thế để chống ai. Phải thấy rằng thực hiện giải pháp mà tác giả gọi là chiến lược, thì hoàn toàn không phù hợp với Việt Nam trong bối cảnh vô cùng phức tạp của thế giới ngày nay, nhất là trong quan hệ phức tạp giữa các nước lớn với nhau và giữa Việt Nam với các nước lớn đó. Chiến lược ấy là trái với đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Việt Nam, theo đó Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước, Việt Nam thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại, đang được nhân dân ta và nhân loại tiến bộ đồng tình ủng hộ.
Tác giả TQC không chỉ cố tình nhầm lẫn thách thức thành cơ hội để hạ thấp, xuyên tạc vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn rất sai lầm về những nhận định và giải pháp lớn. Tác giả viết đất nước đang bế tắc trong chọn lựa chính thể thích hợp để phát triển và giữ vững chủ quyền trước mưu đồ xâm lấn của Trung Quốc. Sự bôi nhọ, xuyên tạc ở đây là cho rằng đất nước ta đang bế tắc trong lựa chọn chính thể. Tác giả TQC nên hiểu rằng việc chúng ta lựa chọn con đường, chế độ nào hoàn toàn do truyền thống và ý thức độc lập tự chủ, tự trọng của dân tộc ta và do lịch sử khách quan đặt ra, chứ không mảy may phụ thuộc vào Trung Quốc, càng không phụ thuộc vào thái độ ngang ngược của Trung Quốc xâm lấn nước ta. Đất nước ta đi lên con đường xã hội chủ nghĩa, chính thể ta là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một tất yếu lịch sử, khách quan sau 30 năm đấu tranh hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, thu giang sơn về một mối, thống nhất nước nhà. Chúng ta đứng vững trên chính thể của chúng ta, tiến hành vừa hợp tác vừa đấu tranh với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, dù biết rằng cuộc đấu tranh này rất lâu dài và đầy gian nan, phức tạp. Cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ, được rất nhiều quốc gia trên thế giới đồng tình ủng hộ, có chỗ dựa vững chắc vào pháp luật quốc tế. Cũng như mọi cuộc đấu tranh của dân tộc ta trong lịch sử, cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay đòi hỏi phải khôn ngoan, sáng suốt, sáng tạo chứ không chỉ có tinh thần quả cảm hy sinh.
Tác giả TQC còn kiến nghị giải pháp có tính chiến lược khác là thực hiện “đa đảng”, “đa nguyên” để “dân chúng trong nước hài lòng và ủng hộ”. Theo tôi, ý kiến này là không phù hợp với nguyện vọng và tâm lý đa số nhân dân Việt Nam. Nhân dân ta có bề dày về kinh nghiệm chính trị, đất nước ta hiện nay đang ổn định chính trị - xã hội, xét về nguyện vọng sâu xa là mong ĐCSVN xây dựng và phát huy đúng đắn nền dân chủ của chúng ta, mong ĐCSVN lãnh đạo một cách dân chủ để nhân dân phát huy thực sự và đầy đủ vai trò làm chủ xã hội của mình, chứ nhân dân ta không muốn tạo nên một chế độ đa đảng, đa nguyên chính trị để gây ra sự xáo trộn, căng thẳng xã hội. Kiến nghị thực hiện “đa đảng”, “đa nguyên” còn là kiến nghị trái với pháp luật hiện hành của nước ta. Hiến pháp hiện hành của VN quy định chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng, và giao cho ĐCSVN vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội, mà Hiến pháp này đã được lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân, đã được các đại biểu của nhân dân cả nước – tức Quốc hội - thông qua. Nên nhớ rằng, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nước nhà, có giá trị lâu dài, rất lâu dài, chỉ thay đổi khi lịch sử đất nước chuyển giai đoạn, và cũng chỉ có Quốc hội mới có quyền bổ sung, sửa đổi, thay đổi Hiến pháp.
Những giải pháp chiến lược gì cho VN.
Tương lai VN trông chờ vào việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh thời đại , tiếp tục đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vừa xây dựng vừa bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo đúng đẵn của ĐCSVN. Để xứng đáng vai trò lãnh đạo, ĐCSVN phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, trước hết nâng cao phẩm chất chính trị và đạo đức của đảng viên, ra sức đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Trong chế độ một đảng, phải ra sức tìm kiếm những hình thức cụ thể, phù hợp với phương thức lãnh đạo dân chủ, phù hợp với nền dân chủ của đa số.
9-6-2015
THẠCH HÀ