Thứ Tư, 24 tháng 2, 2016

Nhìn nhận và trao đổi về bài viết “Hãy là ngôi sao, đừng là hạt cát” của Bùi Tín


@Đức Hoàng
 Trước khi bàn đến một vài nội dung trong bài viết của ông đăng trên một số trang mạng xã hội mấy ngày qua. Trước tiên, phải nói rằng tôi và ông (Bùi Tín) cùng độ tuổi xưa nay hiếm, có thể yên phận nhắm mắt xuôi tay về với tiên tổ cũng được yên lòng, nhưng thật phấn khởi trước hiện thực đời sống xã hội của đất nước ta hiện nay. Hơn thế, thật là  hạnh phúc khi chúng ta được sinh ra trên mảnh đất thân yêu hình chũ (S) và đang cùng dân tộc được hưởng trọn niềm vui từ những thành quả công cuộc đổi mới 30 năm qua Đảng ta mang lại. Nhưng trái lại, tôi và ông lại có sự khác biệt rất cơ bản, tôi chỉ là một công dân bình thường, một trí thức đã nghỉ hưu luôn xum vầy cùng con cháu, chứng kiến, tin tưởng, phấn khởi trước sự đổi thay từng ngày của đất nước và kỳ vọng vào sự phát triển trong tương lai của nước nhà. Nhưng còn ông thì sao? ông luôn làm những "chuyện khuất tất" đối với Tổ quốc, với dân tộc mà người dân ai cũng biết, đó là: phản bội Tổ quốc, trốn ra nước ngoài, đi ngược lại lợi ích của dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước của một kẻ tội đồ với căn bệnh nan y khó chữa, thế nhưng ông vẫn cao ngạo, có phần xảo trá rằng xuất phát từ ý thức của một công dân quan tâm đến cuộc sống của nhân dân, đến vận mệnh của dân tộc. Biết điều hay lẽ phải mà không nói thẳng ra là có tội với dân, với nước”. Quan tâm ư, ông chỉ quan tâm đến chính ông, đúng là tâm địa của kẻ “lá mặt, lá tái”, lật lọng khó lường... Nói về tâm can của con người, ông nổi trội hơn hẳn mọi người, vì ông luôn là con người ma mãnh, cơ hội, tự cao, tự đại, coi mình hơn tất thảy. Nhưng quan trọng hơn nữa là sự khác biệt giữa tôi và ông về quan điểm, nhận thức chính trị của mỗi người. Đi vào cụ thể nội dung dung bài viết tôi xin trích lại một vài ý để trao đổi thẳng thắn với ông và cùng chia sẻ cảm nhận của mình với mọi người để thấy rõ thực chất vấn đề.Ông cho rằng Hy vọng rằng tại Đại hội XII sắp đến sẽ có vài quả “bom hiền lành” làm giật mình cả xã hội, không giết ai nhưng sẽ cứu dân cứu nước, cứu quân đội ra khỏi bế tắc phe phái hiện nay. Mong rằng vẫn có một số đại biểu có sỹ khí, giơ tay đứng thẳng dậy, phát biểu đại thể như sau: Đại hội nên từ bỏ chủ nghĩa Mác- Lênin đã phá sản gần như khắp nơi trên thế giới vì không phù hợp với dân tộc ta; nên từ bỏ chủ nghĩa xã hội ảo tưởng, chủ nghĩa Cộng sản xa vời viển vông...”. Thực sự ông mới là người xa vời viển vông, hy vọng một điều không tưởng của một kẻ hám lợi cho bản thân mà bán rẻ lương tâm, phản bội chính quê hương, đất nước sinh ra mình, để cổ xúy cho những việc không nên làm, hòng phá hoại sự bình yên của dân tộc, không một người dân nào mong muốn. Tôi tin rằng cuộc sống vẫn sẽ trôi đi, nhưng những điều giản dị ở Việt Nam là Đảng chăm lo cho đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, vươn lên làm giàu đã và đang được khẳng định. Đó là đạo lý, là lẽ sống của người dân Việt Nam tin yêu đi theo Đảng, do đó thử hỏi 1510 đại biểu dự Đại hội XII của Đảng sắp tới là những người ưu tú được lựa chọn đại diện cho hàng triệu đảng viên trong cả nước cớ sao có thể làm những điều trái với lương tâm và trách nhiệm của chính mình như vậy. Cho nên, ông cũng như một số người đừng nên mơ tưởng hão huyền mà hao tâm, tổn thọ...Thực chất cái căn cốt vấn đề ông muốn hô hào “Đại hội nên từ bỏ chủ nghĩa Mác- Lênin đã phá sản gần như khắp nơi trên thế giới vì không phù hợp với dân tộc ta...”. Có thật đúng như vậy không? tại sao ông lại hô hào như vậy? bởi nhẽ ông là người phản bội Đảng, khi không được thỏa mãn dục vọng cá nhân tầm thường, hơn ai hết ông cũng quá rõ về con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn, vì đây là lựa chọn đúng đắn không thể phủ nhận.Thưa với ông, chúng ta cần phải nhận thức rằng, từ thực tiễn thực hiện công cuộc đổi mới trong 30 năm qua, có giai đoạn, thời điểm Đảng ta cũng phạm phải những sai lầm, khuyết điểm. Nhưng những sai lầm khuyết điểm ấy đều xuất phát từ việc Đảng nhận thức và vận dụng không đúng với tinh thần và bản chất của học thuyết Mác-Lênin, chứ không phải học thuyết đó vốn có sai lầm để ông và một số người chưa rõ hoặc cố tình ngụy biện từ bỏ nó. Một minh chứng rõ ràng, điều này đã được công khai thừa nhận ở Đại hội VI, được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011). Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta “bao giờ cũng lấy thực tiễn của cách mạng Việt Nam, lấy hiện thực sinh động của xã hội Việt Nam làm điểm xuất phát trong việc vận dụng những nguyên lý của CN ML” (Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV) chứ không bao giờ từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, một lần nữa lại được minh chứng thể hiện rất rõ trong Luận cương và Cương lĩnh của Đảng ta: "Luận cương chính trị năm 1930 "...Đảng ta là đội tiên phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa  Mác - Lê-nin làm gốc". Tiếp đến Cương lĩnh (1991) xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó khẳng định "Đảng lấy CN ML, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động". Và gần đây Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định "Đảng lấy CN ML, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động". Do đó, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta càng phải trở về với CN ML, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách trung thành và sáng tạo trong tình hình mới. Đảng ta tiếp tục kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, bởi thực tiễn cho thấy: đó là một học thuyết khoa học và cách mạng; là ngọn đuốc soi sáng con đường đấu tranh của toàn dân tộc ta để xây dựng phát triển đất nước, hội nhập quốc tế và bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ của tổ quốc. Một thực tế nữa, tôi xin lưu ý với ông rằng, không chỉ có chúng ta thừa nhận tính tất yếu và yêu việt của chủ nghĩa Mác- Lênin mà các học giả, nhà nghiên cứu trên thế giới khi nghiên cứu, đánh giá về chủ nghĩa Mác - Lênin, như: Giắccơ Đêriđa, triết gia hiện đại có uy tín ở Mỹ và Pháp đã kêu gọi nhân loại hãy “trở về với Mác”, rằng nhân loại “không có tương lai nếu không có Mác, nếu không có các di sản của Mác” (Giắccơ Đêriđa: Những bóng ma của Mác, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.16). Ngay cả Brêdinxki, tác giả cuốn sách “Thất bại lớn - sự hưng vong của chủ nghĩa cộng sản thế kỷ XX”, mặc dù rất thù ghét chủ nghĩa Mác, cũng phải thừa nhận chủ nghĩa Mác vẫn là một vũ khí sắc bén để nhân thức và cải tạo thế giới đương đại, khi viết rằng “Đối với những phần tử trí thức giàu năng lực phân tích giám định, thì phần lý luận chủ nghĩa Mác đã cung cấp cho họ chiếc chìa khóa để hiểu biết lịch sử nhân loại, là một phương pháp phân tích đánh giá xã hội, phân tích nguyên nhân những biến động chính trị, là một lý luận chặt chẽ khám phá những bí mật của đời sống kinh tế, và một loạt những kiến giải vì nhân tố động cơ xã hội. Khái niệm về phép biện chứng lịch sử xem chừng là phương pháp giá trị nhất để xử lý các mâu thuẫn hiện thực” (Lưu Đình Á: Hãy cảnh giác cuộc chiến tranh thế giới không có khói súng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.129)... Nhiều nhà triết gia, sử gia, kinh tế... nhận đinh, đánh giá về tính yêu việt của chủ nghĩa Mác và tầm quan trọng của nó trong thế giới đương đại của thế kỷ XXI. Cùng với đó, rất nhiều người trong các giai tầng xã hội lại tìm đọc Mác. Tư bản luận trở thành sách bán chạy ở ngay trong lòng các nước tư bản, theo Giám đốc nhà xuất bản Berlin Kari-Dietz (nơi giữ bản quyền tác phẩm của C. Mác: Tư bản luận bán ra trong tháng 10-2008 tăng gấp 3 lần so với năm 2005, đông nhất là độc giả trẻ. Ở Italia, Nhà xuất bản Niuton Comtơn cũng bán được 5000 bộ tư bản; ở Nhật bản, truyện tranh chuyển thể từ tư bản luận bán được 6000 bản chỉ trong 2 tuần đầu tháng 12-2008. Vậy tại sao có hiện tượng đó?, nhà sử học người Anh Êrích Hôxbon đã nói rằng “Chính là những người tư bản, chứ không phải ai khác, đã tái phát hiện Mác” và việc quay trở lại đọc Mác có nghĩa là thế giới cần phải nghiên cứu học thuyết của ông về chủ nghĩa tư bản, và về vị trí học thuyết đó trong sự phát triển của xã hội loài người”... Nhiều nhà khoa học thuộc các trường phái, quốc gia khác nhau trên thế giới cũng tập trung nghiên cứu, bình luận về Mác – Lênin... Những minh chứng ở trên là không thể phủ nhận, đồng thời cũng bác bỏ quan điểm sai trái của ông hô hàoĐại hội nên từ bỏ chủ nghĩa Mác- Lênin”.Hiện nay, hiện thực cuộc sống luôn tồn tại trong lòng mỗi người dân Việt Nam, cả dân tộc đang kỳ vọng rất lớn vào Đại hội XII của Đảng, tiếp tục kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng sáng tạo trong thực tiễn giai đoạn cách mạng mới của dân tộc Việt Nam, đúng như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”. 
Đức Hoàng

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2016

CHỈ LÀ ĐỒ RỖI HƠI



@Nguyễn Văn
Dưới tiêu đề: “HRW kêu gọi Việt Nam “chấm dứt độc đảng”, BBC tiếng Việt cho hay: hôm 19/01, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) phát đi thông cáo kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam “nên nhân dịp Đại hội XII ra tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử tự do và công bằng để bầu ra các nhà lãnh đạo đất nước”. HRW luôn có ác cảm với Việt Nam, nên tổ chức này bị mù màu, không thấy hay cố tình không thấy “bầu cử tự do và công bằng” ở Việt Nam. Trong các cuộc bầu cử các cấp ở Việt Nam đều có các nhà quan sát quốc tế, qua các lần bầu cử họ đều thừa nhận tính khách quan, dân chủ, công bằng ở Việt Nam. Tất nhiên để có các ứng viên, ở Việt Nam cũng như các nước khác đều có sự lựa chọn, giới thiệu từ cơ sở để lựa chọn người có đủ tiêu chí đề cử để công dân có quyền lựa chọn bằng lá phiếu của mình. Đó là thực tế khách quan không thể phủ nhận! Thế mà HRW lại dỗi hơi can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Như vậy, chính “Tổ chức Theo dõi Nhân quyền này” lại vi phạm “quốc quyền” - quyền tự quyết của các dân tộc. Điều 1 hai công ước: Công ước về các quyền dân sự, chính trị Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên hợp quốc đều khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết; xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị và tự do theo đuổi đường lối phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của mình”. Vậy thì hà cớ gì HRW lại “kêu gọi” Đảng Cộng sản Việt Nam “bầu cử đa nguyên ở Việt Nam để chấm dứt nền cai trị độc đảng” (!). Việc một đảng hay nhiều đảng là tùy thuộc vào nhu cầu, thực tiễn của mỗi nước, không tổ chức hay nước nào có thể can thiệp. Chẳng nhẽ HRW không biết sao? hay đó là sự thiếu văn hóa khi can thiệp thô bạo vào công việc nước khác của Tổ chức này!
Ông Brad Adams, Giám đốc khu vực châu Á của HRW còn thô thiển cho rằng: “Tương lai của hơn 90 triệu người dân Việt Nam không thể để cho một nhóm nhỏ quan chức Đảng Cộng sản quyết định”(!). Tay Giám đốc này chỉ xằng bậy. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Việc lãnh đạo đất nước đã được nhân dân tin tưởng, ủy thác và giao phó cho Đảng. 1.510 đại biểu tại Đại hội XII của Đảng đã được đại hội Đảng các cấp bầu chọn thay mặt mình đi dự Đại hội toàn quốc của Đảng. Các đảng viên của Đảng không về dự Đại hội XII thực hiện quyền dân chủ dán tiếp thông qua các đại biểu mà mình đã lựa chọn. Xin nói thêm, không phải 1.510 đại biểu chỉ đại diện cho khoảng 4,5 triệu đảng viên không đâu. Bởi mỗi công dân khi trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam phải có sự tín nhiệm giới thiệu của tổ chức quần chúng: Đoàn Thanh niên, hoặc Công đoàn,… Những người của tổ chức quần chúng đã tin tưởng, giới thiệu cho Đảng kết nạp người của tổ chức mình vào hàng ngũ của Đảng. Vậy là, đảng viên đó đã đại diện cho tổ chức Đoàn Thanh niên hay Công đoàn rồi. Từ đó khẳng định, 1.510 đại biểu dự Đại hội XII của Đảng không chỉ đại diện cho 4,5 triệu đảng viên của Đảng mà họ còn đại diện cho những người ở các tổ chức quần chúng, nên con số thực tế rất lớn, gồm mấy triệu đoàn viên thanh niên và mấy triệu đoàn viên Công đoàn nữa. Vì thế không thể thiển cận cho rằng, mấy triệu đảng viên không đại diện cho 90 triệu người Việt Nam.
Tại Đại hội XII, các đại biểu bầu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư,… một cách dân chủ bằng lá phiếu của mình - dân chủ trực tiếp. Kết quả của việc tín nhiệm bằng bỏ phiếu kín lựa chọn người có đủ phẩm chất, năng lực lãnh đạo đất nước trong thời gian tới là hoàn toàn phù hợp, không thể võ đoán cho rằng “nhóm nhỏ” của Đảng không quyết định được những công việc của đất nước. Một số nước, tổng thống có quyền giải tán cả quốc hội, đưa ra các quyết định của đất nước bất chấp có sự đồng ý hay không của quốc hội thì sao? Trong khi đó, ở Việt Nam mọi quyết định đều do tập thể bàn bạc, thống nhất, mà tập thể ấy đã được nhân dân tin tưởng, ủy thác, thế mà HRW lại cho rằng không được còn tổng thống quyết định tất thảy thì lại được. Thật là nghịch lý. Điều đó lần nữa chứng minh HRW là tổ chức thiên kiến, không khách quan, nên không tin cậy, mặc dù có cái thên rất hay: “Tổ chức Theo dõi Nhân quyền”. Cái tên và việc làm của Tổ chức này cho thấy: “Chiếc áo không làm nên thầy tu” mà thôi.

CHỈ LÀ SỰ NGỤY BIỆN



@ Nguyễn Văn
Một số trang mạng “lề trái”, ngày 16-01 có đăng bài viết: “Bàn về chữ đức của ông Nguyễn Phú Trọng” của Trần Quý Cao. Đó chỉ là sự ngụy biện, bẻ cong chữ “Đức” mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập khi lựa chọn những người đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo của Đảng.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói người có Đức: “Phải trung thành tuyệt đối với dân, với chế độ, với Đảng, giữ cho được chế độ này, Đảng này, giữ cho được hòa bình ổn định để phát triển đất nước”. Rõ ràng như thế, mà Cao lại bẻ cong đưa ra ba “hệ quả” của quan niệm “giữ cho được chế độ này, Đảng này”.
Hệ quả thứ nhất, ông ta cho rằng, “đất nước đi ngược chiều văn minh”(!). Cần khẳng định ngay rằng, đó là sự võ đoán của Cao. Văn minh được thể hiện ở việc chăm lo đến an sinh xã hội, đời sống của nhân dân như thế nào. Điều đó thể hiện sinh động ở việc thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Về vấn đề này, cộng đồng quốc tế đánh giá cao Việt Nam. Bởi nhiều mục tiêu Việt Nam đã về đích sớm; trong đó, có mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Điều đáng nói là Việt Nam thực hiện thành quả đó trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng, Nhà nước đã quan tâm, ưu tiên các nguồn lực cho xóa đói giảm nghèo. Vì thế, tỉ lệ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh chóng. Do vậy, nhiều nước đề nghị Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm trong thực hiện Mục tiêu này trong điều kiện đất nước còn khó khăn. Trong khí đó, nhiều nước phát triển, có thu nhập bình quân đầu người cao, nhưng không ít người vô gia cư, phải sống trong các hộp cát-tông, vỉa hè,… đó sao. Đành rằng, ở vùng sâu, vùng xa nước ta còn một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu đói, nhất là lúc giáp hạt. Đó là vấn đề khó tránh khỏi, Đảng, Chính phủ đều biết và đang cố gắng lãnh đạo, chỉ đạo để có các hành động cụ thể khắc phục tình trạng này. Tuy nhiên, để khắc phục triệt để tình trạng đói nghèo không phải một sớm một chiều mà đòi hỏi phải có thời gian và thực hiện từng bước vững chắc để không tái nghèo.
Hệ quả thứ hai ông Trần Quý Cao đưa ra là “chặn đường phát triển của dân tộc”(!). Lý do mà ông ta đưa ra là do đất nước không có các đảng phái khác đưa ra các phương án khác nhau để nhân dân lựa chọn, mà chỉ có một sự lựa chọn phương án của Đảng Cộng sản. Phương án của Đảng Cộng sản trước khi quyết định đã đưa ra toàn dân thảo luận, đóng góp, hiến kế đấy thôi. Dự thảo văn kiện trình Đại hội XII của Đảng và các kỳ đại hội trước cùng những quyết sách quan trọng khác, như Hiến pháp và các luật,… Đảng, Nhà nước chẳng lấy ý kiến góp ý của nhân dân đó sao? Thực chất, ông ta ngụy biện để đòi đa đảng mà thôi. Hãy nhìn ra thế giới, một số nước đa đảng có giữ được ổn định để phát triển đất nước đâu. Những đất nước đó luôn xảy ra mâu thuẫn, sung đột, hậu quả là nhân dân phải gánh chịu. Vậy nên, Trần Quý Cao và những người có suy nghĩ như ông ta dừng giầu trí tưởng bở.
Hệ quả thứ ba, Trần Quý Cao cho rằng, “đưa Tổ quốc vào tròng của Trung Cộng”(!). Cao không phải là người đầu tiên nói về vấn đề này, mà ông ta chỉ là người “ăn theo nói leo”. Việt Nam và Trung Quốc cùng ý thức hệ, cùng lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, không thể nói nước nào theo nước nào được mà là sự lựa chọn của mỗi nước phù hợp với luật pháp quốc tế về quyền dân tộc tự quyết - tự quyết định lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình. Thực tế cho thấy, Quốc khánh Việt Nam ngày 02-9-1945, còn Quốc khánh Trung Quốc ngày 01-10-1949, mà sự lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa của Việt Nam được khẳng định ngay từ Cương lĩnh năm 1930 của Đảng. Vậy nước nào theo nước nào mà họ lại đua nhau cho rằng Việt Nam theo Trung Quốc, vào “tròng” Trung Quốc? Đó chỉ là sự ngụy biện vô lối mà thôi.