Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015

Một lần bất tín, vạn lần bất tin!

Bùi Tín và nay là Điếu Cày giờ chắc đang nếm trái đắng, ngậm ngùi sống trong ghẻ lạnh của cộng đồng người Việt ở Mỹ. Gieo nhân nào, gặt quả đấy! gieo nhân "Ăn cháo đái bát" gặt quả "bị ghẻ lạnh, khinh miệt"!

Từ "cò mồi" Bùi Tín đến "cò mồi" Điếu Cày trong canh bạc hoà giải hòa hợp của Việt cộng
- LÃO MÓC -
Không phải tới bây giờ VC mới đưa những tên cò mồi ra hải ngoại để kết hợp với bọn tay sai của chúng đã mai phục trong các cộng đồng người Việt tỵ nạn CS để thực hiện kế hoạch “hoà hợp, hoà giải” nhưng thực ra chính là để chiếm lĩnh cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại.
Đầu thập niên 90, VC đã đưa tên cò mồi Bùi Tín (BT), vốn là Đại Tá Quân Đội Nhân Dân, Phó Tổng Biên tập của báo QĐND qua Pháp. Với “Kiến nghị của một công dân”, BT được một số “trí thức đầu ruồi” ở Pháp như tên Nguyễn Gia Kiểng (NGK), kẻ đã cùng tên “Tiến Sĩ hoang tưởng” Nguyễn Bá Long (NBL) ở Canada “đội lên đầu” tên hung thần 50 tuổi đảng là Nguyễn Hộ, tên VC mất dạy đã chủ trương: "Nhà của ngụy ta lấy, vợ của ngụy ta xài, con của ngụy ta sai, còn ngụy thì ta đày chúng lên vùng rừng sâu nước độc!” lên làm “Minh chủ” của cái mà 2 tên đầu ruồi này đặt tên là Mặt Trận Dân Chủ. Tên hung thần NH chẳng những từ chối mà còn “ị” từ trên đầu 2 tên này “ị” xuống. Đến nay “mùi ... VC” vẫn chưa phai mùi trên đầu 2 thằng trí thức đầu ruồi này!
Tên “đầu ruồi” NGK, kẻ đã hỗn xược bắt “Tổ Quốc Ăn Năn” kêu gọi mọi người về VN “hãy vào lăng HCM ở Ba Đình thắp hương cho HCM để nói với hôm nay và mai sau rằng người VN đã quên hết hận thù (sic!)”. Nói cho rổn rảng, nhưng chính tên đầu ruồi này nó đíu có dám làm; bởi vì mụ vợ của nó là bà Hồ Quỳ mấy năm trước về VN làm từ thiện đã bị VC nó đuổi cổ về Pháp.
Tên NGK đã quay sang bưng bợ xưng tụng tên BT là “nhà phản kháng”! Nhưng vì cả lũ đánh bóng quá kỹ nên lòi ra bộ mặt của “một tên cò mồi” có nhiệm vụ thực hiện chính sách hoà hợp, hòa giải của VC! (Xin xem phần phụ đính).
Mấy năm trước, tên cò mồi BT được luật sư Ngô Văn Quang và đồng bọn ở Bắc California là  Trương Bổn Tài, Nguyễn Tường Tâm v.v… “Còng thỉnh” qua San José để “dạy dỗ cho chúng nó về dân chủ” tại thư viện Luther King...
...Buổi “tập huấn” về dân chủ của quản giáo Bùi Tín ở San José coi như hoàn toàn thất bại. May quá, lúc đó luật sư Nguyễn Tâm đã “liều mình cứu chúa” là mời “Bác Bùi” lên chương trình truyền hình của hệ thống truyền thông CaliToday “tôi tôi, bác bác” để gỡ gạt cho “Bác Bùi” chút nào uy tín. “Chú” Việt Tân Hoàng Cơ Định lúc đó cũng có viết bài cong đít, cong đuôi bênh vực “bác quản giáo” Bùi Tín! 
Vừa qua, Bắc California đã nổi bèo, nổi bọt với “sự cố” (nói theo cách nói của VC) là qua móc nối của Nghê Lữ, Thiện Thành của đài SBTN, Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Bắc California do Mai Khuyên làm chủ tịch đã long trọng đón tiếp “quản giáo” là “Cò Mồi” Điếu Cày đến “đứng lớp”.
Thấy các cựu Trung Tá QLVNCH như các ông Chu Tấn (Trần Như Huỳnh), xếp sòng của cái gọi là Đại Hội Diên Hồng Thời Đại, Nguyễn Tái Đàm, cựu Chủ Tịch Cộng Đồng nhiều nhiệm kỳ… ngồi nghe quản giáo Điếu Cày lên lớp, chợt nhớ đến câu nói: "Chắc là bọn này nó nhớ cái cũi mà ngày xưa chúng nó đã bị rọ mõm” (sic!) mà chạnh lòng!
Không ai ngạc nhiên về chuyện các cựu Trung tá Trương Đình Sửu, Nguyễn Hữu Hãn áo cồn, cà vạt long trọng dự lớp tập huấn của tên quản giáo Điều Cày vì các ông này đã chạy trước nên chưa nếm mùi cải tạo, và trước đây các ông này đã có “thành tích lẫy lừng” là mặc đại lễ sì sụp bái lạy di ảnh Hoàng Minh Chính tại Toà Thị Sảnh thành phố San José.
Chuyện làm nhiều người Việt tỵ nạn cộng sản chạnh lòng là chuyện tên quản giáo Điếu Cày, cựu bộ đội QĐND nó ăn mặc xốc xếch, mặt mày lấc ca lấc cấc; trong khi các ông cựu sĩ quan QLVNCH áo cồn, cà vạt ngon lành các cái. Có anh còn “chơi” cả cà vạt Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ mới là trái khoáy.
Hoạt cảnh này gợi nhớ chuyện thằng Thú Trưởng VC Nguyễn Thanh Sơn nó mặc T-Shirt cùng với tên “buôn xương bán cốt” Nguyễn Đạc Thành thắp hương trước Nghĩa Dũng đài ở Nghĩa địa Bình An!
Những cựu sĩ quan Quân Lực VNCH sao mà lại đổ đốn đến như thế!
Sau khi “lên lớp” ở thư viện Luther King, không biết quản giáo Bùi Tín có đuợc “các học viên” thết đãi hay không; nhưng sau khi lên lớp cho các cựu sĩ quan QLVNCH ở Khu Hội CTNCT/BC của mấy ông Nguyễn Như Được, Cao Gia, Mai Khuyên, Nguyễn Gia Đắc… thì “quản giáo” là “Cò MỒI” ĐIẾU CÀY được nhóm người đã rước “CÒ MỒI” BÙI Tín” trước đây tiếp rước tưng bừng ở một nhà hàng nổi tiếng ở San José.
nguyễn văn hải
Nhìn cảnh các ông luật sư Ngô Văn Quang, “luật gia” Nguyễn Tường Tâm và nhất là cảnh “Tiến sĩ Việt học” Trương Bổn Tài ôm vai, choàng cổ quản giáo Điều Cày và TS Nguyễn Quang A ở trong nước “đi công du” (?) mà cảm khái cách gì – nói theo cách nói của nhà văn Hoàng Hải Thủy!
*
Trong bài “Các nhà tranh đấu VN sang đến Mỹ đều bị cháy”, Lão Móc có đưa ra ý kiến: "Nếu trong tương lai, nữ Đại úy Công an VC Tạ Phong Tần “bị” VC cưỡng bức bà này từ nhà tù đưa thẳng ra máy bay đưa qua Mỹ để tiếp tục tranh đấu cùng với Điếu Cày thì coi như kịch bản được Mỹ và VC dàn dựng trong canh bạc hòa hợp hòa giải quá tồi! - Giống như trước đây, khi “nhà phản kháng” Đoàn Viết Hoạt (ĐVH) mập ú như con heo quay so sánh với nhà báo Hà Tường Cát ốm nhom, ốm nhách, vừa bước xuống máy bay ở phi trường Săn-Phăng là bèn la to: "Vợ tui đâu rồi?” là nhiều người tiên đoán là nhà phản kháng ĐVH đã tự thiêu chính mình!
Cũng thế, Cò MỒI Điếu Cày đã tự nổi lửa đốt chính mình ngay khi bước xuống phi trường LA đã gặt phắt LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ! Dù sau đó, chính anh ta và đồng bọn đã bằng mọi cách để biện hộ; nhưng đã quá muộn.
Những bộ mặt của “những tên trí thức đầu ruồi” ở San José đã tiếp rước quản giáo “Cò MỒI” BÙI Tín” qua quậy tưng San José mấy năm trước, nay lại tiếp rước khoản đãi  “Cò MỒI” ĐIẾU CÀY, kẻ đã đốt cháy Khu Hội CTNCT/BC cho thấy canh bạc hoà hợp hoà giải của VC đã hoàn toàn thất bại! Vì chính bọn này đã tự lật lá bài tẩy cho đồng bào tỵ nạn thấy bộ mặt tay sai VC của chúng nó!
***
PHỤ ĐÍNH: BÙI TÍN, MỘT NGƯỜI TRANH ĐẤU HAY CHỈ LÀ MỘT TÊN BỊP?
LÃO MÓC
 “…Để tiến tới xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã tạo mối hận sâu đậm với Hoa Kỳ, không những gây tổn thất nặng nề về nhân vật lực mà họ còn dùng nhưng lời lẽ hết sức năng nề để sỉ vả Hoa Kỳ. Sau đó lại lừa gạt, lật lọng người Mỹ để thôn tính miền Nam và từ đó dùng vấn đề tù binh, hài cốt và người Mỹ còn mất tích trong Cuộc chiến để làm điều kiện đòi Hoa Kỳ giải tỏa cấm vận và bình thường hóa bang giao.
Cũng vì mục tiêu trên, giới lãnh đạo CSVN đã phản bội Trung Cộng, tố cáo Bắc Kinh nào là “thực hiện chiến lược bành trướng đại dân tộc và bá quyền”, nào là “lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện”, nào là thực hiện “những Cuộc thanh trừng tàn bạo và đẫm máu ở trong nước”… Hà Nội còn công bố Bạch thư “Sự thật quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua” tố cáo Bắc Kinh trong Cuộc chiến Việt Nam vừa qua đã ba lần phản bội Cách mạng Việt Nam, mà “lần sau độc ác, bẩn thỉu hơn lần trước”. Ngoài ra Cộng sản Việt Nam còn tạo mối oán thù chồng chất với những người đồng chủng tộc, những người có tinh thần quốc gia dân tộc.
Nếu đất nước này suy tàn, “nhân dân lâm vào cảnh đói khổ ngày nay vì Đảng đã hấp tấp và chủ quan xây dựng xã hội chủ nghĩa mà không kinh qua giai đoạn phát triển thiết yếu của chủ nghĩa tư bản” như lời thú nhận của cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thì việc điều chỉnh hướng phát triển tương lai khá dễ dàng, đằng này nó còn là hậu quả của việc phong tỏa cấm vận của Hoa Kỳ và việc trừng phạt của Trung Cộng “nhằm làm cho Việt Nam đổ máu cho đến chết”. Do đó chủ trương của Hà Nội là phải quay về với Bắc Kinh nối lại mối dây thân hữu với Trung Cộng, vừa dùng vấn đề tù binh và người Mỹ mất tích để ve vãn cầu hòa với Hoa Kỳ vừa kêu gọi Hoa Kỳ viện trợ để họ cởi mở hơn về mặt chính trị vừa đưa ra chiêu bài hòa giải với những người Quốc gia ở hải ngoại.  
Trong kế hoạch hòa giải này, Bùi Tín nguyên đại tá và Phó tổng biên tập báo Nhân Dân – tiếng nói của đảng CSVN, tự đảm nhận vai trò thuyết khách, ông đến Pháp và Mỹ như là một người chống đối chế độ Hà Nội.
Trong tác phẩm “Hoa Xuyên Tuyết” phổ biến ở Paris, Tín xin mọi người hãy “nén tình cảm riêng lại để chung sức lo chuyện cứu dân cứu nước”. Ông kêu gọi “những người lương thiện của hai bên đi đến hiểu nhau, nhân ái và độ lượng, tương kính và khoan dung với ý nghĩ chung: mỗi bên đã yêu nước bằng những cách khác nhau nay vẫn là lòng yêu nước nên gắn bó nhau trở lại để bắt tay xây dựng lại đất nước hoang tàn vì Cuộc sống của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau”.
Để thực hiện việc hòa giải, Bùi Tín đặt vấn đề “Cộng sản và Quốc gia: Ai đúng, ai sai? Ai có công, ai có tội?”… nhưng ông không dám dứt khoát trả lời. Ông chỉ nhắc lại lập luận của những người Cộng sản về nguyên ủy gây ra Cuộc chiến Quốc Cộng để lên án người Quốc gia đã “theo Pháp, theo Mỹ để lôi kéo vào đất nước hàng triệu tên xâm lược, bắn phá hàng triệu tấn bom đạn trên cả hai miền Nam Bắc”. Và chỉ trích những người Cộng sản đã “mù quáng theo lịnh Stalin coi những người không cùng chính kiến là kẻ thù nguy hiểm cần phải thủ tiêu”.
Bùi Tín đề cao Cuộc cách mạng tư sản dân quyền của Pháp năm 1789 và cho rằng “Lénin cũng phải công nhận giá trị của nó, và ngày nay Liên Xô, các nước Đông Âu cho đến Mông Cổ đều đã quay lại thực hiện trọn vẹn đầy đủ những quyền tự do dân chủ của giai đoạn cách mạng tư sản dân quyền. Và các nước ấy đã không “sai lầm”, “lẩm cẩm”, “dại dột” như các vị lãnh đạo đảng CSVN nhận định đâu”. Ông cổ vũ khái niệm đa nguyên chính trị chứ không chịu đề cập đến chuyện “đa đảng”. Ông đề nghị thành lập “một chính đảng mới, đảng Độc lập và Tự do chẳng hạn, theo như câu châm ngôn “không có gì quý hơn độc lập tự do”, bao gồm trí thức, công nhân, nông dân, thanh niên, nhà kinh doanh, đảng này có thể thu nhận những người Cộng sản tự nguyện rời đảng CS để gia nhập. Đảng đăng ký hoạt động hợp pháp với ý thức chính trị xây dựng dân chủ và đoàn kết hợp tác, vừa ganh đua với đảng CS”.  
Trong “Kiến nghị của một công dân” gởi các lãnh tụ đảng CSVN cũng như trong các Cuộc tiếp xúc với báo chí Việt ngữ ở Paris, Bùi Tín luôn hết lời ca ngợi Hồ Chí Minh và cho rằng đảng CSVN sẽ thắng bất cứ Cuộc bỏ thăm nào, kể cả một Cuộc tổng tuyển cử hoàn toàn tự do, trong sạch có quan sát viên quốc tế trông chừng vì đảng CSVN là tổ chức tập trung được hầu hết tinh hoa đất nước. Do đó chủ trương lập đảng của Bùi Tín rõ ràng muốn tìm lối thoát cho đảng CSVN với việc hình thành một đảng đối lập bao gồm những đảng viên Cộng sản ly khai liên kết với các thành phần khác để “ganh đua” với những người lãnh đạo hiện tại của đảng CSVN bị ông tố cáo là “đã phản lại huyền thoại Hồ Chí Minh”.
Mưu định ngoại vận và thuyết khách của Bùi Tín bước đầu có vẻ thuận lợi. Trong thời gian ở Pháp và Mỹ, Tín đã tiếp xúc một số chính khách thuộc phe Quốc gia như cựu đại tướng Nguyễn Khánh (đã chết), cựu thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, các ông Bùi Diễm, Tạ Văn Tài, Nguyễn Mạnh Hùng, Lê Xuân Khoa… Tín đã đến nói chuyện với tổ chức Asia Society Center ở Hoa Thịnh Đốn và có một bài viết đăng trên tờ Washington Post. Ông kêu gọi Hoa Kỳ “hãy viện trợ cho Việt Nam vì đó vì đó là cách tốt nhất để khuyến khích Cộng sản cởi mở về mặt chính trị”. Ông cho rằng “mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam hứa hẹn những hy vọng vì viện trợ trao đổi mậu dịch, văn hóa và khao học kỹ thuật với Hoa Kỳ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc yểm trợ các thành phần có khuynh hướng tiến bộ tại Việt Nam”…
… Tuy nhiên những nhận xét của Bùi Tín về Cuộc chiến Việt Nam khiến nhiều người
thất vọng khi ông cho rằng “Cuộc chiến đấu chống thực dân dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh là một Cuộc chiến đấu anh hùng, là biểu tượng vinh quang của đảng CSVN” và “thành phần lãnh đạo của đảng CSVN hiện thời không thể bị lên án vì họ đã đạt được thắng lợi trong Cuộc chiến tranh chống đế quốc”. Bùi Tín còn cho rằng chiến tranh Việt Nam là Cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ chớ không phải là Cuộc chiến tranh do Cộng sản chủ xướng bằng bạo lực và sự bạo tàn để áp bức những người yêu chuộng tự do của Việt Nam Cộng Hoà”.
Ký giả Al Santoili sau khi nghe Bùi Tín nói chuyện đã viết một bài trên Washington Times với tựa đề:
Đại tá Bùi Tín: Một người tranh đấu cho dân chủ hay là một tên bịp?”.
San Atoli nhận định:
Bùi Tín không phải là một Yeltsin của Việt Nam. Công việc của Đại tá Bùi Tín là công tác của một cán bộ chính trị chìm thì đúng hơn. Boris Yeltsin là một trong những nhà lãnh đạo Nga đầu tiên lên án chủ thuyết Cộng sản. Nhưng Bùi Tín thì vẫn cố chạy tội cho thành phần đảng viên thân thích của ông trong đảng CS và kêu gọi các nước Tây phương cùng người Việt hải ngoại giúp đỡ để họ lên nắm quyền bính… Tín vẫn hết lòng tin tưởng rằng chủ nghĩa Mác-xít còn có một chỗ đứng tại Việt Nam và ông còn cố gắng bào chữa cho sự nghiệp ‘thống nhất đất nước’ của đảng CSVN”.     
Ký giả San Atoli kết luận:
Con bài Bùi Tín giống như thủ đoạn chính trị mà Hà Nội đã dùng trước năm 1975 để đạt những chiến thắng chính trị cho họ”. (Trích Việt Nam Thắng và Bại – Lê Quế Lâm).
*
Với bài viết này, chúng tôi xin gửi câu hỏi của ký giả San Atoli: “Đại tá Bùi Tín: Một người tranh đấu cho dân chủ hay là một tên bịp?” đến ông Bùi Tín.
Và mới đây, trên điện báo “Báo Tổ Quốc” tác giả Bùi Anh Trinh có viết trong bài “Xung đột thế hệ sau 40 năm” như sau:
“Theo ông Bùi Tín trong Cuốn Mây Mù Thế Kỷ phát hành năm 1999 thì chính phủ Hoa Kỳ đã nhờ ông ta phát động một chương trình hoà hợp hoà giải với CSVN (trang 302,303, và 304). Trong đó ông Bùi Tín đặc biệt giới thiệu một nhân vật cấp tiến của CSVN là ông Nguyễn Tấn Dũng (trang 261). Tuy nhiên thái độ phản kháng quyết liệt của người Việt tỵ nạn trong năm 1999 đã khiến cho chương trình hoà giải của Hoa Kỳ bị trì hoãn”.
Như vậy có phải từ bấy tới nay ông Bùi Tín vẫn đang thực hiện chương trình hòa hợp hòa giải mà chính phủ Hoa Kỳ đã nhờ ông - như ông đã viết trong quyển “Mây Mù Thế Kỷ”?

LO BÒ TRẮNG RĂNG




 Nguyễn Văn
Nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moom theo lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vào ngày 22 và 23-5-2015, một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam đề nghị Ông “thúc đẩy nhân quyền Việt Nam”, là thông tin được VOA tiếng Việt cho biết vào ngày 22-5-2015. Họ cho rằng, “Tổng thư ký Ban nên nhân chuyến thăm lần này nêu vấn đề nhân quyền với các nhân vật cao cấp nhất trong Chính phủ Việt Nam. Trong vô số rất nhiều vấn đề nhân quyền của Việt Nam, chí ít ông Ban nên đề cập tới ba ưu tiên chính là yêu cầu Hà Nội hủy bỏ các điều luật mượn danh an ninh quốc gia để đàn áp nhân quyền, phóng thích tù nhân lương tâm, và yêu cầu nhà nước Việt Nam chấm dứt các hành động sách nhiễu, hành hung, trấn áp những nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền” (!)
“Trong vô số rất nhiều vấn đề nhân quyền của Việt Nam” mà họ đề cập đã bị chính trả lời phóng vấn của phóng viên trước chuyến thăm của Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moom sau đây là cái vả vào miệng những kẻ đơm đặt. Trước chuyến thăm, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon đã trả lời phỏng vấn về mục đích chuyến thăm cũng như khuyến nghị trong giai đoạn chuyển đổi sang các Mục tiêu phát triển bền vững sau 2015 ở Việt Nam. Khi được phóng viên phỏng vấn: Việt Nam là một trong những quốc gia đã thực hiện thành công các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). Ông có khuyến nghị gì đối với Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang các Mục tiêu phát triển bền vững sau 2015?
          Tổng Thư ký Ban Ki-moon: Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và đã hoàn thành phần lớn các mục tiêu đó, chẳng hạn như: giảm một nửa tỷ lệ nghèo đói; cải thiện tiếp cận của người dân với nước và vệ sinh; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và bình đẳng giới trong giáo dục. Tôi rất vui mừng trước quyết tâm và thành tựu của Việt Nam, đặc biệt là qua việc xây dựng các mục tiêu phát triển quốc gia đã giúp Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới thành một nước có thu nhập trung bình trong những thập kỷ gần đây.
Tuy nhiên, Ông cũng cho rằng, hướng tới tương lai sau năm 2015, Việt Nam cần bảo đảm đạt được những tiến bộ tương tự ở tất cả các nhóm dân cư, kể cả các cộng đồng dân tộc thiểu số và người dân sống gần ngưỡng nghèo. Việt Nam cần đảm bảo sao cho không ai bị rơi lại vào tình trạng nghèo cùng cực do bị ảnh hưởng bởi những thảm họa thiên tai hoặc kinh tế. Đó cũng là những vấn đề mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang quyết tâm thực hiện. Song, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moom nhấn mạnh: “Tôi tin rằng kỷ nguyên sau 2015 sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho Việt Nam và giúp đất nước các bạn vượt qua những thách thức còn tồn tại để đạt được phát triển bền vững cho tất cả mọi người”. Thiết nghĩ những nhận định khách quan, khái quát trên của Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon đã bác bỏ những tiếng nói lạc lõng cho rằng, Việt Nam “còn vô số các vấn đề về nhân quyền”.
 Họ đề nghị Tổng thư ký Liên hợp quốc “yêu cầu Việt Nam hủy bỏ các điều luật mượn danh an ninh quốc gia để đàn áp nhân quyền”, là một đề nghị phi lý. Là một đất nước độc lập, có đầy đủ chủ quyền, Việt Nam phải có hệ thống luật pháp riêng phù hợp với luật pháp quốc tế và đặc điểm, văn hóa, truyền thống của mình. Thật vậy, trong “Tuyên bố Viên và Chương trình hành động”, cộng đồng quốc tế khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực về lịch sử, văn hóa và tôn giáo…”[1]. Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, cũng quy định: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận…”, khoản 3 mục 2 Điều 19 quy định nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Đó là trong khi thực hiện các quyền này phải chịu một số hạn chế nhất định… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Như vậy, họ yêu cầu Việt Nam hủy bỏ cái gọi là “điều luật mượn danh an ninh quốc gia để đàn áp nhân quyền” là yêu cầu không căn cứ, không theo luật pháp quốc tế nên không thể chấp nhận.
Họ yêu cầu Việt Nam “phóng thích tù nhân lương tâm” (!), Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, ở đất nước này không có “tù nhân lương tâm”, chỉ có những người vi phạm pháp luật thì bị trừng trị theo quy định của luật pháp. Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nên pháp luật phải được thượng tôn, không có ai đứng trên pháp luật, ngoài pháp luật. Bất cứ ai, là công dân Việt Nam vi phạm pháp luật đều phải xử phạt bình đẳng trước luật pháp. Những người theo đạo vi phạm pháp luật, những người mượn danh tự do ngôn luận vi phạm pháp luật đều phải xử phạt theo luật pháp. Họ không thể đứng trên pháp luật, ngoài pháp luật. Vậy nên, hỡi các người, đừng có ăng ẳng mãi mà chán tai lắm rồi!
Họ cho rằng, “tự do tôn giáo tại Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng thông qua Dự thảo Luật Tôn giáo và Tín ngưỡng với nội dung tăng cường siết chặt kiểm soát sinh hoạt của các cộng đồng tôn giáo” (!) Hiến pháp Việt Nam, được Quốc hội thông qua ngày 28-11-2013 có một chương về “quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Ðiều 24 của Hiến pháp 2013 khẳng định mọi người sinh sống trên đất nước Việt Nam đều có quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng, không như Hiến pháp 1992 chỉ giới hạn đối với công dân Việt Nam. Ðiều này cũng được cho là thể hiện một thái độ tích cực hơn đối với tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Việc Quốc hội Việt Nam thông qua Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện một bước tiến trong việc xây dựng cơ sở pháp lý cho các cộng đồng tôn giáo, tín ngưỡng. Ðiều 38 của Pháp lệnh cũng quy định các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia sẽ có giá trị cao hơn các quy định của Pháp lệnh trong trường hợp mâu thuẫn. Nghị định 92 cụ thể hóa việc thực hiện Pháp lệnh được thông qua ngày 8-11-2012, tiếp tục quy định chi tiết hơn các biện pháp thực hiện Pháp lệnh. Một số đại diện các cơ quan Chính phủ cũng thể hiện sẵn sàng xem xét một số sửa đổi thực chất đối với Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay trong tiến trình chuẩn bị xây dựng dự án luật tôn giáo. Việt Nam đang xây dựng và dự kiến sẽ thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo vào năm 2016. Xuất phát từ quan điểm tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của con người, nên Nhà nước Việt Nam chủ trương nhất quán là tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước Việt Nam cũng coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng. Ðiều này được thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (1946 - trước cả khi Tuyên ngôn Nhân quyền 1948 đề cập), được phản ánh xuyên suốt đến Hiến pháp 2013, cũng như các văn bản pháp luật liên quan khác, v.v. Vậy nên, lo ngại “tự do tôn giáo tại Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng” quả là “lo bò trắng răng”.


[1] - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002,  tr 44.

Góp phần phản bác quan điểm phủ nhận vai trò lãnh đạo của ĐCSVN

An Khánh
 Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đã được khẳng định trong thực tế tiến hành cách mạng, xây dựng phát triển đất nước và được nhân dân VN thừa nhận.
Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đã được thực tế kiểm nghiệm, nhất là vào những bước ngoặt của lịch sử VN.
ĐCSVN ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước VN. Đảng đã giải quyết thành công cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của nước ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
ĐCSVN là Đảng duy nhất lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, đưa sự nghiệp đó đến thắng lợi hoàn toàn.
ĐCSVN đã lãnh đạo thành công sự nghiệp phát triển đất nước sau ngày 30-4-1975.
Khi CNXH thế giới lâm vào khủng hoảng, các đảng cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu đã tiến hành cải tổ, cải cách nhưng không thành công; bị đổ vỡ, do đánh mất vai trò lãnh đạo của mình. ĐCSVN đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, giải quyết thành công cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội vào những năm 80 của thế kỷ XX, đưa đất nước vững bước trên con đường đẩy mạnh công nghiệp, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng đinh:
“ĐCSVN do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước VNDCCH đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn VN.
Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 80 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, khó khăn, thách thức còn nhiều.
Trong lãnh đạo, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên”.
Chứng kiến những thành tựu trên trong lịch sử dân tộc, nhân dân VN sâu sắc ghi nhận bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo của ĐCSVN, đặc biệt trong những giai đoạn khó khăn nhất của cách mạng; đã thừa nhận ĐCSVN là đảng duy nhất lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng. ĐCSVN được nhân dân tin tưởng, che chở, ủng hộ và xây dựng. Suốt trong quá trình từ khi thành lập đến nay, người dân VN vẫn trìu mến gọi ĐCSVN là “Đảng ta”.
Vì bài học từ sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu còn nguyên giá trị: Từ khi chấp nhận bỏ Điều 6, HP Liên Xô, đã dẫn đến tình trạng xuất hiện đa đảng và hậu quả là ĐCS Liên Xô mất quyền lãnh đạo, chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ. Do đó , nhân dân VN nhận thức rõ hơn ai hết, nếu chấp nhận đa đảng, chế độ XHCN sẽ sụp đổ, đất nước sẽ rối loạn, thành quả mà nhân dân đã tốn biết bao xương máu mới giành được sẽ rơi vào tay các thế lực không trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Nhân dân VN không thể chấp nhận điều đó.
Cũng chính vì hiện nay, ở VN không có lực lượng chính trị nào đủ tư cách và năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tuyệt đại đa số nhân dân vẫn tin tưởng vào Đảng, đồng thời mong muốn và tin tưởng rằng Đảng sẽ tự chỉnh đốn, khắc phục các khuyết điểm, yếu kém để hoàn thành sứ mệnh của mình là lãnh đạo Nhà nước, xã hội. Qua các kỳ HNTW gần đây chuẩn bị cho ĐH12, Đảng cũng đang thể hiện sự quyết tâm tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, để “Đảng là đạo đức, là văn minh” theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để củng cố lại niềm tin của người dân với Đảng.

MỘT SỰ HÀM HỒ

Nguyễn Hưng Quốc có bài “Việt Nam: độc tài chuyên chế hay độc tài toàn trị?”, được VOA tiếng Việt, đăng trên internet vừa qua, lại được một số trang mạng lề trái đăng lại. Đọc bài viết thấy rõ sự hàm hồ của anh ta.
Mở đầu bài viết, Quốc khẳng định một câu xanh rờn: “Ai cũng biết Việt Nam sống dưới một chế độ độc tài” (!) Đó là sự hàm hồ tai hại. Bởi vì, có nhiều quan niệm khác nhau về độc tài; trong đó, có quan niệm: chế độ độc tài của một nhà nước là không được nhân dân ủng hộ. Vậy, Nhà nước Việt Nam có được nhân dân ủng hộ không? Câu trả lời là: Có. Bằng chứng là, ngay từ khi ra đời (9-1945) đến nay, Nhà nước Việt Nam luôn được nhân dân ủng hộ. Không được nhân dân ủng hộ thì làm sao Việt Nam một nước kém phát triển về kinh tế, quân sự lại chiến thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Chính vì được nhân dân ủng hộ nên Việt Nam đã tạo được sức mạnh vượt trội so với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để chiến thắng hai kẻ thù xâm lược, theo đúng quy luật của chiến tranh: mạnh được yếu thua. Điều đó đã được thực tiễn chứng minh nên không thể bác bỏ.
Từ sau khi thống nhất đất nước (4-1975) đến nay thì sao? Nhà nước Việt Nam có tiếp tục được nhân dân ủng hộ không? Câu trả lời cũng là: Có.
Không được nhân dân ủng hộ thì làm sao từ một đất nước bước ra khỏi chiến tranh với bao vết thương tàn khốc, hậu quả vô cùng nặng nền, nhưng đến nay khắp từ thành thị đến nông thôn đều có sự thay da đổi thịt. Những khu đô thị văn minh, hiện đại mọc lên đang dần thay đổi bộ mặt của các thành phố; những con đường cao tốc, con đường được bê tông hóa đang rút ngắn khoảng cách đi lại giữa các vùng, miền, thôn xóm trong cả nước, làm cho người ta có cảm giác như đất nước đang nhỏ đi trước sự phát triển của các con đường giao thông hiện đại ấy. 
Không được nhân dân ủng hộ thì làm sao có được những làng biến thành phố ngày càng nhiều lên, làm cho nông thôn Việt Nam đã khác xa với nông thôn của chính nước mình trước đây. 
Nhà nước Việt Nam không được nhân dân ủng hộ sao làm được điều thần kỳ mà nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế phải ngả mũ: từ một nước thiếu đói phải nhập khẩu lương thực vươn lên trở thành nước xuất khẩu lương thực có thứ hạng cao trên thế giới. 
 Không được nhân dân ủng hộ sao Việt Nam đã về đích sớm nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ do Liên hợp quốc khởi xướng và phát động. Điều đó trở thành “điểm sáng”, “mẫu hình” cho nhiều nước noi theo và ngưỡng mộ, nhất là thành tựu về xóa đói giảm nghèo. Còn nước không phải độc tài thì có được kết quả ấy không? Nhà nước mà vì nhân dân thì dù có một đảng cũng không phải độc tài.
Nguyễn Hưng Quốc còn hàm hồ rằng: “Trong lịch sử, toàn bộ các chế độ độc tài đều là chuyên chế; chỉ có ba chế độ độc tài được ghi nhận là toàn trị: chủ nghĩa phát xít tại Ý, chủ nghĩa Nazi tại Đức và chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu trước đây cũng như ở một số quốc gia khác; trong đó, có Trung Quốc và Việt Nam hiện nay”. Chủ nghĩa phát xít bị cả thế giới lên án, phản đối, vì nó chống lại loài người. Còn chế độ Cộng sản, thì chỉ là sự khác biệt về sự lựa con con đường phát triển. Đó là quyền dân tộc tự quyết đã được Liên hợp quốc công nhận và bảo vệ. Việc Liên Xô, các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam,… lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa được hàng tỉ người trên thế giới đã và đang ủng hộ. Và ngày nay, vẫn là xu hướng phát triển của nhân loại và đang được nhiều nước ở Mỹ La tinh noi theo. Sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể, còn lý tưởng thì bất diệt. Vì thế, có rất nhiều người sống dưới chế độ ấy đến nay nhắc lại họ vẫn tiếc nuối!
Tuy nhiên, hiện nay, ở Việt Nam, tại nơi này, nơi khác, lúc này, lúc khác cũng có một số người bày tỏ chưa hài lòng về một chính sách, một cách giải quyết cụ thể một vấn đề nào đó liên quan đến quyền lợi cá nhân, mà có khi sự đòi hỏi ấy vượt quá sự cho phép của chính sách, pháp luật Nhà nước hiện hành. Nhưng đó là những việc cụ thể, đơn lẻ, mang tính bộ phận, không phải toàn thể. Bất kỳ nước nào cũng có tình trạng như vậy. Đó là điều bình thường với mọi quốc gia, nên không vì thế mà vội vàng cho rằng Nhà nước Việt Nam không được nhân dân ủng hộ. Vì nó không phản ánh đúng bản chất của Nhà nước Việt Nam.
Nguyễn Hưng Quốc hàm hồ cho rằng: Ở Việt Nam, trong các diễn văn chính thức, người ta vẫn nhắc đến chủ nghĩa Mác và “tư tưởng” Hồ Chí Minh, nhưng trong suốt mấy chục năm vừa qua, kể từ phong trào đổi mới và đặc biệt, sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa bị tan rã ở Liên Xô và Đông Âu, người ta vẫn không thể cụ thể hóa cái gọi là “tư tưởng” Hồ Chí Minh” (!) Xin thưa tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ ra từ Đại hội IX (năm 2001): “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn hoá nhân loại...”[1]. Thế còn tại sao Quốc lại cho là: “không chứng minh được một cách thuyết phục cái gọi là chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản có chút giá trị khoa học cần được thực hiện hay ứng dụng”(!) Giá trị khoa học của chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản là ở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Lý luận của C. Mác trong bộ tư bản, mà mỗi khi thế giới tư bản lâm vào khủng hoảng thì chính các nhà tư sản ở các nước tư bản tìm mua để nghiên cứu, tìm cứu cánh cho nền kinh tế tư bản thoát khỏi khủng hoảng, làm cho nhà xuất bản ở Đức không ngừng việc tái bản. Điều này đã được giới truyền thông loan tin, Quốc hẳn đã biết? Hãy tìm đọc bộ tư bản của C. Mác sẽ cho anh thấy rõ giá trị khoa học của chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản Quốc ạ! Do vậy, những lý lẽ mà Nguyễn Hưng Quốc đưa ra cho thấy anh ta quả là người hàm hồ.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 83.

    Nguyễn Văn  

ĐỌC “CHUYỆN NHÀ QUÊ” CỦA NGUYỄN QUANG LẬP




Lâu nay, một số văn nghệ sỹ vẫn nói nhà văn Nguyễn Quang Lập (Bọ Lập) là người có trách nhiệm với cây bút, chống tiêu cực, thậm chí, khi ông bị cơ quan an ninh bắt thì một số người đã ký tên ủng hộ, lên án Việt Nam đàn áp văn nghệ sỹ, trù dập những người tham gia “phản biện xã hội”.
Vừa rồi, tôi có dịp đọc tập truyện ngắn có tên “Chuyện nhà quê” của ông.
Tập truyện gồm 25 truyện ngắn, dài hơn 250 trang, do NXB Hội Nhà văn cấp phép và đơn vị liên doanh là Công ty TNHH Sách Phương Nam in ấn, phát hành.
Có thể nói, tập truyện ngắn này ngoài sức tưởng tượng của tôi.
Ngoài vài truyện thông thường, có nội dung tầm phào, thì hầu hết các truyện đều có vấn đề, hoặc đề cập tới tình dục thái quá, hoặc đề cập đến chế độ chính trị (thông qua các cán bộ cơ sở) với lối viết hết sức dung tục, đùa cợt, nhiều từ viết thô thiển, xúc phạm. Xin được in nghiêng những phần trích trong truyện, để thấy, Nguyễn Quang Lập đã viết như thế nào.
Truyện Trọc phú (từ trang 9-15), viết về Tụy, tay chạy vặt trong các gánh hát, sau trở thành nhạc sỹ, do có tiền, đổi tên thành nhạc sỹ Tinh Túy. Hồi trẻ, Tụy mê Thủy, nhưng không được Thủy yêu. NQL viết thế này: Một hôm, thấy nó di chân trên cát đi một hình vẽ to đùng, mình hỏi vẽ chi rứa? Nó nói bướm con Thủy. Vẽ xong, nó ngồi lọt thỏm vào đấy… Con Thủy đi đâu, nó cũng đứng giạng háng chặn lại, chim võng trong quần nói chồng Thủy có bằng con cu của tui không mà chê tui hử?
Sau khi cặp bồ được với Thủy, nó rỉ tai mình, nói tao chơi gái nhiều, chưa thấy con nào hay như con này, lông nó rẽ ngôi, hai xoáy, giống y chang đầu bố vợ tao.
Truyện Quê choa chí dị (trang 16-38) là những mẩu chuyện chắp nối, kể với giọng tưng tửng có chủ đích của tác giả.
- Bí thư Chi đoàn Thái: được bầu làm bí thư vì biết chắc chắn Mác – Lê nin là hai ông. Em gái chết thì sướng vì dễ đưa gái về ngủ trong nhà. Gương mẫu, tức là làm mẫu trong gương. Tối thui chẳng thấy gì cả, chỉ nghe phì phì hực hực, nhóp nhép bóp bép. Anh cu Thái mồm nói một đằng, c… văng một nẻo (trong truyện, viết nguyên từ này). Lại còn so sánh: Đồng chí Lê Nin lãnh đạo toàn thế giới mà lại có vợ, dở dở, thua xa Bác mình. Thái lấy được chức đội trưởng cũng nhờ đổi bướm (em gái), cho chủ nhiệm.
- Chủ nhiệm thì hiếp chị Lý, sau đó đổ tội cho người khác, giết người diệt khẩu…
Truyện Anh hờ hờ (39-43), có đoạn: vợ tao theo trai biến vô Sài Gòn rồi. Tao có cả chục bé nhưng cũng biến sạch cả rồi, toàn loại vô văn hóa, chúng chỉ mê con cu tao thôi
Truyện Kẻ tàng hình (69-87), còn khủng khiếp hơn. Chuyện kể về chiến tranh phá hoại miền Bắc từ 1964, ảnh hưởng đến Quảng Bình. Khi nghe súng bắn, máy bay gầm rú, dân tình la khóc ầm ỹ chạy đi tìm trưởng thôn thì trưởng thôn nhấc cái điếu cày, tra thuốc vào nõ, rít một hơi, nói từ từ, để nghiên cứu cái đã. Sau khi biệt kích chạy vào làng, cả làng đi tìm không thấy người đâu, chỉ thấy cu của địch, nên tuyên truyền cu địch lén lút xấu xa/ cu ta chân lý chói lòa niềm tin/ bà con phân biệt cho minh/ biệt kích dù có tàng hình cũng thua. Đối với những người phụ nữ hậu phương khi người đàn ông không ở nhà, thì mạ tui bất khuất kiên cường/ thay cu một tháng hai buồng chuối xanh, hay làm sao giữ được tình yêu/ dễ thôi miễn có thật nhiều chuối xanh… Khi bắt được trưởng thôn ngủ với chị đóc Xấu, trưởng thôn kéo quần lên, nói tau phải hy sinh cu tau để cứu vườn chuối hợp tác
Nhiều, rất nhiều những từ ngữ tục tĩu trong truyện. NQL nhại thơ Giang Nam (Quê hương): xưa yêu quê hương vì có chim có bướm/ có những ngày trốn học bị đòn roi trở thành: xưa chúng mình yêu nhau vì rờ chim vọc bướm/ có những ngày lẹo chắc bị đòn roi. Hay các ông nhà báo phải lên tiếng chứ, nhà trường đem thơ Hồ Xuân Hương ra dạy cho con nít là sai. Thơ Hồ Xuân Hương là thơ l.. c…. L… c…(trong truyện viết nguyên chữ này) là gì? Nó là vấn đề nhơ nhuốc. Hồ Xuân Hương tởm tởm (Truyện Đa phu, 183-196).
Có lẽ không nên nhắc thêm nữa, vì quá nhiều những câu chữ, tình tiết như vậy xuyên suốt tập truyện của NQL. Với giọng văn như thế, vừa bôi nhọ, vừa xúc phạm, giải thiêng thần tượng (Bác Hồ, Lê Nin), cho đến phụ nữ, đến các tầng lớp trí thức, đến cán bộ (đại diện trong truyện là trưởng thôn, là bí thư đoàn thanh niên…), NQL đã “vẽ” lên những câu chuyện hết sức nhảm nhí, bôi nhọ, thiếu ý thức về trách nhiệm của một nhà văn chân chính.
Tôi cũng không hiểu, tại sao với một tập truyện nhảm nhí và thiếu trách nhiệm như vậy, mà NXB Hội Nhà văn lại cấp phép xuất bản, phát hành rộng rãi trên toàn quốc tại các nhà sách trong cả nước. Bất kỳ một người dân nào, lứa tuổi nào cũng có thể đến, mua đọc, xem (vì nó được bày bán công khai), cộng với một số lời giới thiệu của các nhà văn, nhà báo, nhà phê bình khác cổ súy cho nó (như Phạm Xuân Nguyên, Bảo Ninh…). Nội dung truyện dung tục, chửi bới, hình ảnh phản cảm của trai gái trong truyện phơi bày mồn một. Giới trẻ, thanh thiếu niên sẽ nghĩ gì, làm gì khi tiếp xúc với loại văn hóa độc hại này?
Tôi đánh giá cao các NXB ở phía Nam, họ có một danh sách dài ghi tên những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình trong cả nước (được cập nhật thường xuyên và kịp thời) tham gia vào các trang website xấu, không chính thống, tham gia vào các hội đoàn trái phép. Và với những đối tượng như vậy, NXB yêu cầu không cho phép xuất bản tác phẩm của họ dù dưới bất kỳ hình thức nào. Đó là một đòn giáng chí mạng vào ý thức của các nhà văn. Bởi, tác phẩm của nhà văn không được công bố thì coi như xong.
Lâu nay, hiện tượng các NXB “bán” giấy phép lấy tiền, đủ quoata theo yêu cầu, còn bỏ mặc sản phẩm của mình cho các doanh nghiệp in ấn, phát hành đã xảy ra nhiều. Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đã có một vài hiện tượng xảy ra (tuy không nhiều). Vì vậy, việc đem con bỏ chợ, thiếu sự quan tâm của các NXB cần phải nghiêm túc xem xét lại.
Người nghệ sỹ phải là con chim báo bão. Người nghệ sỹ khi nhìn vào đời sống, thì hiện thực đó chỉ là cái ban đầu, nghệ sỹ chân chính phải suy nghĩ, dự báo tương lai. Hiện nay Đảng chủ trương tạo điều kiện tự do sáng tạo, khuyến khích mọi phong cách sáng tạo cho người nghệ sỹ. Trách nhiệm của nghệ sỹ phải lọc đi những cái thô bạo, cái chưa được để có cái nhìn đúng đắn và toàn diện về một xã hội Việt Nam tươi sáng.
N.K.H

Đôi dòng suy nghĩ về đại đoàn kết toàn dân tộc




                                                                                                    

 Những ngày qua lang thang trên mạng, đọc được nhiều thông tin hữu ích, cũng có nhiều thông tin làm tôi phải trăn trở, suy nhĩ. Vì vậy tôi muốn viết ra đôi dòng suy nghĩ của bản thân mình để chia sẻ cùng độc giả bạn đọc về đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sớm nhận thấy sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo đã khẳng định, ý chí của nhân dân chính là thành trì vững chắc nhất để giữ nước. Nguyễn Trãi lấy tư tưởng “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” làm nền tảng quan trọng để phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân, đưa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vượt qua khó khăn, đi đến thắng lợi, đánh bại quân xâm lược, giành lại giang sơn, giữ yên biên cương, bờ cõi của dân tộc. Không chỉ dừng lại ở đề cao vai trò của nhân dân, trên cơ sở quan tâm đến quyền lợi, lợi ích của nhân dân, các triều đại phong kiến Việt Nam đã khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để đánh bại các thế lực ngoại bang xâm lược. Sự đồng thuận, đoàn kết thống nhất trong nội bộ triều đình là một trong những nguyên nhân hết sức quan trọng góp phần quyết định những chiến công vẻ vang của cha ông ta.
Kế tục và phát huy truyền thống đó, trong thời đại ngày nay, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được nhân lên gấp bội. Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đã trở thành đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, huy động và chuyển hoá sức mạnh của toàn dân tộc và sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dưới ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc, toàn thể nhân dân từ nông thôn đến thành phố, từ vùng núi cao đến đồng bằng, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, trình độ nhận thức muôn người như một, chung sức đồng lòng đã làm nên những chiến công hiển hách, tô thắm thêm trang sử vẻ vang của dân tộc, nhất là giai đoạn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, điều này khẳng định một chân lý lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai thắng được lực lượng đó. Chính vì vậy từ thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, được vận dụng sáng tạo vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng mở rộng, thu hút nhiều đối tượng thành phần cả ở trong nước và ở nước ngoài tham gia, góp phần thiết thực vào thành tựu chung của cả nước, nhất là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Đất nước ta là một quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc chung sống. Mỗi một dân tộc có phong tục, tập quán, địa bàn sinh sống, thậm chí cả ngôn ngữ, chữ viết riêng. Lợi dụng đặc điểm này, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách khoét sâu khác biệt, chia rẽ giữa các dân tộc, nhất là kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi và cực đoan trong các dân tộc để làm suy giảm sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam. Chúng vẫn luôn tìm cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc của chúng ta. Những chiêu trò mà chúng thực hiện như những "vòi nọc độc” vẫn hằng ngày, hằng giờ len lỏi vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, lợi dụng sự lơ là, chủ quan, mất cảnh giác của người dân để tiêm nhiễm, chống phá. Mặc dù các cơ quan bảo vệ pháp luật, lực lượng chức năng của Việt Nam đã bắt giữ, xử lý nhiều đối tượng vi phạm pháp luật nhưng những chiếc "vòi bạch tuộc" của tổ chức “hội nhóm” phản động đó vẫn không ngừng tìm cách vươn xa, chui sâu vào từng ngõ ngách, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để tiến hành các hoạt động móc nối, lôi kéo những phần tử xấu thực hiện các hoạt động chống phá. Nhận sự chỉ đạo của một số đối tượng phản động lưu vong ở nước ngoài, các phần tử "hội, nhóm" chống đối trong nước, nhất là các phần tử phản động trong đồng bào các dân tộc thiểu số đã tìm mọi cách tuyên truyền xuyên tạc, lôi kéo bà con dân tộc thiểu số trên địa bàn đẩy mạnh âm mưu chia rẽ người Kinh và người dân tộc thiểu số, chúng xuyên tạc cho rằng "người kinh đi đến đâu sẽ cướp đất của các dân tộc khác đến đó" và kích động chống Đảng, chính quyền; tuyên truyền, lôi kéo nhiều người dân tham gia vào những chiêu trò của tổ chức phản động này, chúng thường dùng tiền mua chuộc những người nhẹ dạ cả tin, sau đó cung cấp tài liệu phản động để chỉ đạo phát tán. Cũng có nơi chúng lợi dụng sự sơ hở trong công tác quản lý của chính quyền, cơ quan chức năng để tổ chức  tuyên truyền về “Tin lành Đề Ga” cho nhiều người và lôi kéo những người dân nhận thức hạn chế, thiếu hiểu biết về pháp luật, hám lợi trước mắt tham gia vào tổ chức này để phá hoại quê hương, đất nước mình. Chúng ta cần tỉnh táo nhận rõ âm mưu thủ đoạn của chúng để đấu tranh ngăn chặn, góp phần gìn giữ an ninh, trật tự an toàn xã hội. Trong thời gian qua, nhờ tinh thần đoàn kết, nhân dân ta đã giữ vững được nền độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trước sức ép và âm mưu can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm chủ quyền nước ta của các thế lực thù địch. Những năm qua, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến nhanh chóng và phức tạp, nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động rất lớn đến đời sống kinh tế, xã hội ở nước ta. Trong bối cảnh đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã ra sức phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức; sự nghiệp đổi mới tiếp tục được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực; kinh tế tiếp tục phát triển; an sinh xã hội được chăm lo thiết thực; quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh; vị thế của nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường... Những kết quả trên là thực tiễn sinh động, khẳng định sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc của nhân dân ta. Do đó, việc tạo dựng mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc anh em luôn là đòi hỏi tất yếu trong quá trình dựng nước và giữ nước trước đây, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Hơn lúc nào hết, nhân dân ta càng nâng cao cảnh giác, tỉnh táo trước những luận điệu vu khống, vu cáo bôi nhọ; kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng trước các hoạt động khiêu khích, kích động của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, đùm bọc yêu thương nhau, vượt qua những khó khăn, vươn lên trong cuộc sống. Bằng những việc làm yêu nước cụ thể, mỗi người dân lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc. Ðề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người, tăng cường đồng thuận xã hội; mở rộng dân chủ và giữ vững kỷ cương trong đời sống xã hội. Chỉ có đoàn kết, đại đoàn kết, nhân dân ta sẽ tập hợp được sức mạnh tổng hợp để vượt qua thách thức nhất thời để bảo vệ nền độc lập, cuộc sống tự do, hoà bình, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ mà bao thế hệ người Việt Nam đã đổ máu xương để gìn giữ.
Chỉ có đoàn kết, đại đoàn kết chúng ta mới có thể chủ động và tích cực mở rộng quan hệ quốc tế, làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa của chúng ta, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân ta để bảo vệ hoà bình, công lý và những giá trị cao đẹp của loài người. Đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành một nguyên tắc nhất quán trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta. Đặc biệt những năm gần đây, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách mới hướng đến đồng bào các dân tộc thiểu số. Để những chủ trương, chính sách đó thực sự đi vào cuộc sống, Chính phủ đã chỉ đạo, hướng dẫn các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là trên địa bàn Tây Nguyên bám sát cơ sở để tổ chức thực hiện. Các chương trình, dự án kinh tế, văn hóa, xã hội được triển khai nhanh chóng đã tạo ra sự đổi thay nhanh chóng trong đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, khoảng cách chênh lệnh về trình độ văn hóa, đời sống kinh tế... giữa đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bào Kinh ở các địa phương miền núi ngày càng được thu hẹp... Dù các thế lực thù địch đã dùng nhiều chiêu trò thâm độc để hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, nhưng những minh chứng trên đây không thể phủ nhận được về những thành quả thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Những chuyển động căn bản ấy đã góp phần không nhỏ giúp cho cộng đồng các dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng, động viên và phát huy được sức mạnh to lớn của đồng bào các dân tộc trong nước, cũng như kiều bào ta ở nước ngoài trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh…bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta.
  Trung Dũng

"Độc đảng hay đa đảng" những điều chia sẻ

Chiến Thắng
Thời gian gần đây trên các trạng mạng xã hội, có một số bài viết của những kẻ tự xưng “nhà dân chủ” lại nghêu ngao điệp khúc “độc đảng- đa đảng”..., một mặt nhằm làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, mặt khác nhằm biện minh cho lí do kêu gọi đa nguyên, đa đảng của chúng trước thềm Đại hội XII của Đảng…, với nhận thức của mình và từ thực tiễn đang diễn ra tôi xin  trao đổi cùng bạn đọc nội dung "Độc đảng hay đa đảng" những điều chia sẻ.
Khi nói đến Đảng Cộng Sản Việt Nam, các nhà "dân chủ" thường ám chỉ "độc đảng, độc tài", nhưng thực chất thì không phải như vậy, Đảng Cộng Sản Việt Nam không phải là Đảng của riêng một cá nhân hay tổ chức nào cả, mà Đảng Cộng Sản Việt Nam là đại diện cho ý chí, tinh thần của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc Việt Nam. Đảng là đội tiên phong, là đại biểu trung thành của nhân dân Việt Nam. Đảng vừa lãnh đạo nhưng đồng thời cũng chịu sự giám sát và lãnh đạo của nhân dân. Như vậy, độc tài thể hiện ở đâu? “Độc Đảng” nhưng Đảng luôn đề cao mục tiêu xây dựng dân chủ, phát huy dân chủ để nhà nước ta là nhà nước “của dân, do dân, vì dân và phục vụ lợi ích cho nhân dân”, để nhân dân luôn được làm chủ đất nước “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra”. Hơn thế nữa, Đảng không hề độc quyền, không hề nắm giữ mọi quyền lực trong tay. Ở nước ta, bộ máy nhà nước là tập trung, thống nhất nhưng có sự phối hợp, phân công chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong vấn đề lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đảng chỉ là hạt nhân lãnh đạo, Đảng chỉ đạo chứ Đảng không làm thay công việc của bất kì một cơ quan nào khác. Toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam và hoạt động của nhà nước Việt Nam mới là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nền chính trị của nước ta vẫn là nền chính trị nhất nguyên. Chế độ chính trị đó là do nhân dân ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong quá trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam, nhân dân ta thực sự được làm chủ cuộc sống của mình, được sống cuộc đời “tự do, hạnh phúc”.
 Tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhằm không ngừng củng cố hoàn thiện những điều kiện bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; không ngừng chăm lo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Trong chế độ chính trị nhất nguyên ở nước ta, quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các văn bản Hiến pháp, pháp luật, mà điều quan trọng ngày càng được thể hiện sinh động trong cuộc sống hàng ngày, trong đời sống hiện thực của quần chúng nhân dân. Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện do mình lựa chọn. Ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân ngày càng được đề cao. “Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”. Nhân dân có quyền lập và tham gia các tổ chức xã hội; quyền tự do báo chí, tự do hội họp theo quy định của pháp luật. Nhất là Sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 30 năm qua đã đạt được thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phát triển.
Câu hỏi đặt ra là đa đảng để rồi làm gì? đa đảng để rồi các đảng phái chỉ khư khư và mải mê tranh giành quyền lực mà bỏ bê lợi ích của nhân dân? đa đảng để rồi chỉ biết chăm chăm cho lợi ích của đảng mà không màng tới lợi ích của nhân dân?. Đa đảng để rồi các đảng kết bè, kéo cánh, tập hợp lực lượng cho đảng của mình, các đảng phái tranh giành, đố kị lẫn nhau để rồi gây nên tình hình chính trị bất ổn, kinh tế không được đầu tư và chăm lo cho dân tộc. Bài học thực tế cho thấy ở một số nước thực hiện thể chế chính trị đa đảng như các nước có hệ thống chính trị đa nguyên, đa đảng nhưng vẫn thường xuyên xảy ra khủng hoảng chính trị, đảo chính làm cho xã hội bất ổn. Rõ nhất là những bất ổn chính trị ở U-crai-na, Thái Lan hay ở Campuchia những ngày gần đây, những biến động chính trị diễn ra có nguyên nhân chủ yếu là do đảng cầm quyền và đảng đối lập mâu thuẫn nhau về lợi ích, dẫn đến đảng đối lập kích động quần chúng biểu tình, đưa yêu sách lật đổ chính phủ hợp pháp đang điều hành đất nước. Hậu quả là, quyền dân chủ của người dân bị lợi dụng phục vụ cho mục đích riêng của từng đảng. Rõ ràng, đâu phải cứ có đa đảng mới có dân chủ? Chế độ đa đảng tư sản về thực chất vẫn dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị và chỉ có một đảng cầm quyền.
Thực tế luôn khẳng định, dân chủ không phụ thuộc vào cơ chế một đảng hay đa đảng, mà nó phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền và đảng đó phục vụ cho lợi ích của giai cấp nào cũng như cách thức vận hành cụ thể của bộ máy nhà nước theo quan điểm của giai cấp đó. Việc thực hiện chế độ một đảng hay nhiều đảng phụ thuộc vào những điều kiện chính trị, lịch sử, xã hội, văn hóa, tôn giáo cụ thể của mỗi quốc gia. Lựa chọn thể chế chính trị một đảng hay đa đảng là quyền tự quyết của mỗi nước, không một thế lực nào có thể áp đặt cho nước khác. Dân chủ chỉ được đảm bảo trong điều kiện đảng cầm quyền thực sự cách mạng, hoạt động vì lợi ích của nhân dân. Dân chủ suy đến cùng là quyền tự do, bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân là chủ thể của quyền lực. Quyền làm chủ của nhân dân được thể chế hóa thành các chuẩn mực mang tính nhà nước và pháp quyền; thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của nhà nước cũng như các thiết chế chính trị khác, tạo nên chế độ dân chủ. Vì vậy, không ai khẳng định là nhiều đảng sẽ tốt hơn một đảng.
Các nhà “dân chủ” lúc nào cũng khẳng định rằng, chỉ có đa đảng thì đất nước ta mới phát triển, chỉ có đa đảng thì nước ta mới thoát khỏi độc tài, dân chủ mới được phát huy. Thế nhưng, dân chủ Việt Nam không thiếu, độc tài Việt Nam chưa thấy đâu, vậy hà cớ gì phải đa Đảng?. Hãy xem chính người Mỹ nói về nước Mỹ, một nước thực hiện chế độ đa đảng, thực chất là thế nào. Họ nói rằng, nước Mỹ là một nước “tự do” người dân tự do biểu tình, chửi bới, báo chí tự do phanh phui những chuyện nhạy cảm, xuyên tạc, bôi xấu lẫn nhau vì sự cạnh tranh của các đảng phái này, nhằm hạ uy tín của đảng phái kia. Nhưng điều đó không phải là bản chất thực sự của dân chủ. Giáo sư trường Đại học bang Indiana, Paul Mishler cho thấy rõ thực chất vấn đề: “Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học... đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”; “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”. Bất cứ một nền dân chủ nào, cũng đều nhằm đảm bảo sự thống trị của giai cấp thống trị, cầm quyền. Dân chủ không phụ thuộc vào cơ chế độc đảng hay đa đảng, mà nó phụ thuộc vào bản chất của chế độ cầm quyền phục vụ cho giai cấp nào. Bản thân nền dân chủ tư sản, dù có được tô vẽ như thế nào chăng nữa, thì nền dân chủ đó vẫn là nền dân chủ của giai cấp tư sản, nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với xã hội và người lao động.
Thực tế vừa nêu chưa phải là đầy đủ, nhưng đã cho thấy tính ưu việt của chế độ một đảng ở Việt Nam; không thể vì những khó khăn, phức tạp nào đó mà xuyên tạc bản chất chế độ dân chủ của nước ta, đòi thực hiện đa đảng, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chế độ dân chủ ở nước ta là chế độ dân chủ tốt đẹp và ưu việt. Bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của nó không phải tự nhiên mà có, mà là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam chúng ta. Bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ này có được giữ gìn, nâng cao và phát huy hay không, điều đó phụ thuộc vào chính chúng ta, vào sự quyết tâm và nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

"kinh tế tư nhân" với một góc nhìn



                                                                      
                                                                                    Thành công
Trong thời đại ngày nay, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên toàn cầu hóa với tất cả vận hội và thách thức đan xen, chuyển hóa khôn lường, trong một thế giới phẳng toàn cầu hóa cạnh tranh sinh tử. Đất nước ta hội nhập với thế giới, với bạn bè năm châu, bốn bể là để học hỏi, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, của thời đại, làm giàu thêm, phong phú thêm đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của dân tộc Việt Nam; để tranh thủ ngoại lực, khơi dậy nội lực, biến ngoại lực thành nội lực, xây dựng đất nước phát triển bền vũng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước những tác động tiêu cực của các thế lực thù địch bên ngoài câu kết với các phần tử cơ hội chính trị, phản động trong nước đẩy mạnh các hoạt động chống phá đất nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế, nhất là phát triển kinh tế tư nhân. Nhìn vào thực tế hiện nay cho thấy trong quá trình vận hành nền kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân cũng gặp không ít quan điểm trái chiều, nhận thức chưa đầy đủ, thiếu khách quan, lầm tưởng, thậm chí còn nhận thức không đúng về vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hoặc phủ nhận vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước… Chính những lý do đó, các thế lực thù địch ở bên ngoài, các phần tử cơ hội chính trị, phản động trong nước đã lợi dụng vấn đề này để thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc. Trong thời gian qua, các trang mạng xã hội với nhiều bài viết với nội dung và giọng điệu châm chọc, xuyên tạc, bịa đặt chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế tư nhân, nhất là gần đây Giáo sư, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội Lê Xuân Tùng có bài viết "Phải chăng kinh tế tư nhân là nền tảng của nền kinh tế" được nhiều độc giả quan tâm tìm đọc, trao đổi, bình luận theo tư duy và cách nhìn nhận khác nhau về kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay. Với cách nhìn nhận của cá nhân, tôi xin trao đổi với độc giả bạn đọc gần xa để cùng xem xét, suy ngẫm.
Trong thời đại ngày nay, bất cứ một nền sản xuất xã hội nào muốn đạt hiệu quả tăng trưởng cao đều phải thực hiện nền kinh tế thị trường. Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Một trong những nguyên nhân cơ bản tạo nên sự phát triển của nền kinh tế nước ta là đã khơi dậy được tiềm năng của các thành phần kinh tế thông qua chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng và tiếp tục được khuyến khích phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta trong 30 năm đổi mới vừa qua. Điều này khẳng định, với trình độ phát triển như hiện nay của lực lượng sản xuất ở nước ta, sự tồn tại của kinh tế tư nhân là nhu cầu khách quan; có nghĩa là, kinh tế tư nhân đã và đang tiếp tục chứng tỏ vai trò động lực của nó, là chỗ dựa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời sự phát triển của kinh tế tư nhân trong những năm đổi mới vừa qua đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội của đất nước, nhất là xóa đói, giảm nghèo, tạo được nhiều việc làm mới cho người lao động. Một điều thấy rất rõ và không thể phủ nhận, kinh tế tư nhân chỉ phát triển đúng hướng khi Đảng và Nhà nước có chính sách và biện pháp quản lý phù hợp, tạo động lực phát triển và không để nó vận hành một cách tự phát, thích ứng với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Cụ thể hơn nữa, kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân luôn gắn bó chặt chẽ, mật thiết với nhau, tạo điều kiện để cùng tồn tại và phát triển. Ở nước ta hiện nay, trong mối quan hệ giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, còn kinh tế tư nhân là "chỗ dựa thiết yếu”, "có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” thúc đẩy xã hội phát triển. Hiện nay chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong điều tiết các thành phần kinh tế. Một thực tế cho thấy, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước.. Tuy nhiên, vì nền kinh tế tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên sự can thiệp của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường. Trong các nền kinh tế thị trường đã Phát triển, Nhà nước có 3 chức năng kinh tế rõ rệt là: can thiệp, quản lý và điều hoà phúc lợi. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, song sự điều tiết của Nhà nước vẫn là một trong các hoạt động của nền kinh tế thị trường. Theo đó, thị trường tự do với đúng nghĩa của nó không thể tồn tại, ngoại trừ trong các lý thuyết kinh tế. Tuy nhiên, khi khẳng định sự cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước thì cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng tới cái được - cái mất của sự can thiệp ấy, khi nảo? ở khâu nào?... Cách giải quyết không phải là bỏ mặc thị trường, mà phải là nâng cao hiệu quả của sự can thiệp đó. Nhà nước có một vai trò chính đáng và thường xuyên trong các nền kinh tế. Vai trò đó của Nhà nước đặc biệt thể hiện rõ rệt ở việc xác định "các quy tắc trò chơi" để can thiệp vào những khu vực cần có sự lựa chọn, thể hiện nhưng khuyết tật của thị trường, để đảm bảo tính chỉnh thể của nền kinh tế và để cung cấp những dịch vụ phúc lợi. Quả thực, không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước trong các lĩnh vực như: ổn định kinh tế vĩ mô thông qua chính sách tài chính và tiền tệ, củng cố an ninh quốc phòng, cung cấp hàng hoá công cộng, chống ô nhiễm môi trường, phát triển giáo dục tăng thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội, tạo dựng một bộ khung xã hội được sự điều hành của luật pháp, định hướng cạnh tranh một cách có hiệu quả bằng cách giảm độc quyền…Quan trọng hơn Nhà nước phải tạo ra được môi trường cạnh tranh lành mạnh để phát huy hiệu quả các thành phần kinh tế.
Một minh chứng cụ thể cho vấn đề ở trên và để có phép so sánh, chính là "phép thần kỳ" của Singapore đạt được thực ra là gì? Câu trả lời đến từ vai trò cốt yếu của Nhà nước trong tất cả các lĩnh vực của Singapore. Cố Thủ tướng Lý Quang Diệu cho rằng "với một quốc gia nhỏ bé như Singapore, tìm kiếm một công ty tư nhân đủ lớn để đối đầu với các tập đoàn đa quốc gia là rất khó. Vì vậy, Nhà nước sẽ đứng ra làm tất cả". Ngày nay, 80% dân số Singapore sống trong những căn hộ do Nhà nước xây dựng. Dù quá trình cổ phần hóa đã diễn ra, Nhà nước hiện vẫn chi phối gần như tất cả các doanh nghiệp lớn nhất tại đây. Để phục vụ cho quá trình phát triển của Singapore, Đảng lãnh đạo đất nước này sẵn sàng gạt bỏ những "kẻ quá khích". Theo nhiều cách nói, đó có thể là sự độc tài, nhưng miễn là Singapore vẫn duy trì được tăng trưởng và ổn định, sẽ không có vấn đề nghiêm trọng nào xảy ra. Áp dụng một mô hình rất thành công cho tới tận ngày nay, phép thần kỳ của Singapore có vai trò độc tôn của Nhà nước. Để nói về thành công điều hành kinh tế Singapore của Thủ tướng Lý Quang Diệu, có thể nhắc đến những tập đoàn, công ty được thành lập dưới thời ông mà nay đã trở thành những cái tên lừng danh thế giới. Năm 1968, Ngân hàng Phát triển Singapore (DBS) được thành lập và nay DBS trở thành ngân hàng lớn nhất Đông Nam Á. Năm 1972, Singapore Airlines ra đời và hiện là một trong 5 hãng hàng không lớn nhất châu Á về mặt giá trị thị trường. Năm 1974, công ty đầu tư của Nhà nước Temasek Holdings được thành lập nhằm quản lý các khoản đầu tư và tài sản của Chính phủ. Ngày nay, Termasek quản lý khối tài sản 162 tỷ USD, với CEO là bà Ho Ching, vợ của Thủ tướng đương nhiệm Lý Hiển Long. Còn năm 1981, Singapore khai trương sân bay Changi và ngày nay thành một trong sân bay quốc tế hàng đầu thế giới...
Có thể khẳng định ngày nay kinh tế tư nhân không chỉ có tiếng nói quyết định đến sức mạnh kinh tế của hầu hết các quốc gia mà còn trở thành một lực lượng kinh tế có ý nghĩa chính trị toàn cầu. Sự giàu có và thịnh vượng của mỗi quốc gia tùy thuộc rất nhiều vào thái độ của toàn xã hội, đặc biệt là của đảng cầm quyền, đối với khu vực kinh tế trọng yếu này. Đường lối phát triển kinh tế của một quốc gia thể hiện tư duy chiến lược và có vai trò quan trọng đối với thành công hay thất bại của nền kinh tế. Kinh tế tư nhân đang hình thành những dạng thức đa dạng và phong phú đặc trưng cho mỗi giai đoạn phát triển của đời sống xã hội. Phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng có nghĩa là bảo tồn tính đa dạng, phong phú của đời sống kinh tế, xem nó như là động lực của sự phát triển. Chính vì vậy, cần nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN để thúc đẩy các thành phần kinh tế của đất nước ta dần dần hòa nhịp được với phát triển kinh tế của khu vực và thế giới./.. 




Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là trách nhiệm của toàn dân tộc


Trong thời đại ngày nay, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên toàn cầu hóa với tất cả sự phức tạp của thời cơ và nguy cơ, vận hội và thách thức đan xen, chuyển hóa khôn lường, giữa biển rộng toàn cầu hóa tranh đua sinh tử, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, hơn bao giờ hết, càng được khắc sâu và tỏa sáng. Đất nước ta hội nhập với thế giới, với bạn bè năm châu, bốn bể là để học hỏi, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, của thời đại, làm giàu thêm, phong phú hơn nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam; để tranh thủ ngoại lực, khơi dậy nội lực, biến ngoại lực thành nội lực, xây dựng đất nước phát triển bền vũng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước những tác động từ bên ngoài, nhất là tình hình căng thẳng trên biển đông hiện nay, đang và sẽ tiếp tục đặt ra cho chúng ta nhiều thời cơ, nhưng cũng đầy những thách thức cam go của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Giang sơn, xã tắc mấy nghìn năm ông cha ta truyền lại, thế hệ con cháu chúng ta hôm nay và mãi mãi sau này có nghĩa vụ và trách nhiệm thiêng liêng là phải giữ gìn, quyết không để tổn thất một ly. Dân tộc ta đã mấy nghìn năm nối đời dựng nước, giữ nước, đã đi qua hàng trăm cuộc khởi nghĩa, kháng chiến chống xâm lăng, ở mọi quy mô, với biết bao hy sinh, xương máu; trong những giờ phút hiểm nghèo, đã nêu cao ý chí “dù phải tát cạn biển Đông”, “dù phải đốt cháy dãy Trường Sơn” cũng quyết giành lại và giữ gìn vững chắc độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Ngày nay, hơn 90 triệu đồng bào ta nguyện làm hết sức mình, nguyện đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải, sẵn sàng hiến dâng tới giọt máu cuối cùng vì những điều thiêng liêng vô giá đó.
Lợi ích quốc gia - dân tộc của chúng ta là cụ thể: Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; chế độ xã hội chủ nghĩa, sự giàu mạnh, hùng cường của đất nước, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập quan hệ hữu nghị và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta; bất kỳ thế lực nào có âm mưu, hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh. Làm trái với xu thế hòa bình, phát triển, xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc là vong thân, hại quốc, là có tội với tổ tiên, các thế hệ cha ông, là phụ lại lòng tin và sự ủy thác của nhân dân.
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, cũng như lịch sử của các quốc gia, dân tộc đông, tây, kim, cổ trên thế giới đều xác nhận và khẳng định chân lý: Nhân dân là người làm nên lịch sử, sức dân là vô địch. Chính những người dân chân lấm, tay bùn, chịu thương, chiụ khó, biết bao đời lao động cần cù, hai sương một nắng đã khai sơn, phá thạch dựng nên hình hài Tổ quốc và đã biết bao lần mang xương máu của mình tạo nên bức tường thành vững chắc để giữ gìn, bảo vệ quê hương, đất nước, bảo vệ những thành quả do mình tạo dựng nên. Ông cha ta, từ sự hưng vong của các triều đại, từ các cuộc kháng chiến oanh liệt chống ngoại xâm đã đúc rút, khẳng định và nhắc nhở các thế hệ cháu con muôn đời sau: chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân; khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách để giữ nước; nước phải lấy dân làm gốc, gốc có vững thì cây mới bền. Có dân là có tất cả, mất dân là mất tất cả.
Dân tộc ta yêu hòa bình, luôn mong muốn được sống trong hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước; luôn mong muốn hòa hiếu, hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng và tất cả các nước trên thế giới. Dân tộc ta chỉ buộc phải cầm súng để chống lại kẻ thù xâm lược, bảo vệ tự do, độc lập, chủ quyền quốc gia của mình. Các chiến công oanh liệt của dân tộc ta, được thế giới ngưỡng mộ, đều là chiến công trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh với biết bao đau thương, biết bao hy sinh xương máu, chúng ta mong muốn tắt mọi ngọn lửa chiến tranh để hòa bình đến với mọi dân tộc, mọi quốc gia trên thế giới. “Thương người như thể thương thân”, điều gì chúng ta không muốn đến với mình thì cũng không muốn xảy ra với người khác và chúng ta lại càng không làm với người khác. Đó là đạo lý Việt Nam, nhân nghĩa Việt Nam, khí phách Việt Nam.
Ngày nay, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, nhân văn của dân tộc, phù hợp với tính chất của thời đại, đất nước ta, nhân dân ta hội nhập thế giới, luôn mong muốn có quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị của nhau, cân bằng lợi ích, các bên cùng có lợi, vì hòa bình, ổn định và phát triển của Việt Nam, của khu vực và của toàn thế giới. Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đặc biệt là, trước những diễn biến phức tạp trong khu vực, những âm mưu và hành động xâm chiếm, gây nên tranh chấp trên Biển Đông, đe dọa chủ quyền biển, đảo của đất nước ta, chúng ta kiên quyết phản đối. Với chúng ta, chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là tài sản vô giá của cha ông ta để lại, thế hệ chúng ta hiện nay có nghĩa vụ giữ gìn, bảo vệ để truyền cho các thế hệ con cháu. Kế thừa truyền thống yêu hòa bình, hòa hiếu, nhân nghĩa của dân tộc, chúng ta kiên trì giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển đất nước ta, hòa bình, ổn định trong khu vực; bảo đảm tự do, an ninh, an toàn trên tuyến hàng hải quan trọng hàng đầu thế giới. Chính nghĩa, lẽ phải thuộc về dân tộc ta. Chúng ta nêu cao chính nghĩa sáng ngời để đoàn kết, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, đồng bào trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài; để tranh thủ, thu hút sự ủng hộ rộng rãi, mạnh mẽ của các nước, của cộng đồng quốc tế đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ta.
Biển đảo Việt Nam là  một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của mọi người dân Việt Nam là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. Biển nước ta luôn gắn với những giá trị thiêng liêng tâm linh và lịch sử: truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ, những chiến công lịch sử Bạch Đằng, Vân Đồn xưa, Cồn cỏ, đường huyền thoại Hồ Chí  Minh trong kháng chiến chống Mỹ… đã cấu thành những thành tố thuộc về dân tộc nâng đỡ sức mạnh tinh thần cho muôn thế hệ. Biển nước ta giàu tài nguyên thiên nhiên, là nơi nương tựa của hàng chục triệu người dân đất Việt, là không gian sinh tồn của dân tộc, là địa bàn chiến lược trong bảo vệ  và phát triển đất nước. Do vậy bảo vệ chủ quyền và phát huy tiềm năng biển đảo là mệnh lệnh của Tổ quốc cho mỗi người Việt Nam. Nhân dân Việt Nam luôn ý thức được rằng biển đảo luôn là một phần máu thịt rất thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc thân yêu. Tình yêu đất nước, hướng về biển đảo quê hương của nhân dân Việt Nam còn được thể hiện qua những bài viết, những dòng suy nghĩ chân thật thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, quyết tâm góp một phần công sức của mình cho việc bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương. Nhân dân ta yêu chuộng hòa bình, là một dân tộc quật cường, đầy tính nhân văn, khi thời bình thì phát huy nội lực phát triển đất nước, khi xuất hiện nguy cơ chiến tranh xâm lược thì kiên quyết đứng lên bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải. Mỗi khi đất nước đứng trước họa xâm lăng, sự đoàn kết toàn dân sẽ được nâng cao. Truyền thống yêu nước luôn trong mỗi người và nó được khơi dậy mạnh mẽ khi đất nước lâm nguy.
Hiện nay, các thế lực thù địch lại đang lợi dụng những diễn biến phức tạp trên biển Đông, nhất là từ khi Trung Quốc ngang nhiên tôn tạo các bãi đá cạn thành các đảo nhân tạo trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam để kích động biểu tình, bạo loạn, gây tiếng vang, chúng đẩy mạnh các hình thực hoạt động, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài liên kết, móc nối với các phận tử cơ hội chính trị, phản động, các hội, nhóm hoạt động bất hợp pháp trong nước, hà hơi, tiếp sức, tài trợ tài chính, mở các cuộc thi trên mạng để khuyến khích viết bài xuyên tác, bôi nhọ, thổi phồng, phủ nhận chủ trương, đường lối đối ngọại của Đảng và Nhà nước ta…kích động quần chúng nhân dân, nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên xuống đường biểu tình, bạo loạn gây mất an ninh, trật tự. Chúng lợi dụng lòng yêu nước, nhận thức chính trị còn non kém của một bộ phận thanh niên, sinh viên để chúng có thể tập dượt chính trị cho cuộc “thử” thái độ của quần chúng nhân dân. Cùng với đó, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề Biển Đông tung các bài viết lên mạng xã hội có nội dung phản động cực đoan nhằm bóp méo sự thật về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta giải quyết tình hình căng thẳng trên biển Đông với các tiêu đề giật gân, gây tò mò và lợi dụng tâm lý thích khám phá của độc giả ban đọc để tuyên truyền xuyên tạc chống phá. Hơn ai hết, tất cả chúng ta đều biết, Đảng và Nhà nước ta đã và đang xác định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của Biển Đông, đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách phát triển và bảo vệ chủ quyền biển đảo theo hướng có lợi nhất. Trong chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược về biển, về an ninh quốc phòng…Đảng và Nhà nước đã vạch rõ những nội dung then chốt để phát triển và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Rõ ràng, vấn đề phát triển và bảo vệ biển đảo không phải là chuyện một sớm, một chiều mà phải có các bước đi đúng đắn, phù hợp. Bên cạnh đó, chúng ta cũng liên tiếp phản đối quyết liệt hành động leo thang của các nước có liên quan, giữ vững phương châm giải quyết tranh chấp thông qua con đường ngoại giao. Do đó, những việc làm của chúng ở trên chẳng qua cũng chỉ là mực đích khuếch trương thanh thế, kiếm tiền bố thí từ những kẻ ngoại bang đang hang ngày, hang giờ chống phá đất nước ta, chứ không phải vì “lợi ích của dân tộc, cho dân chúng…”như chúng tuyên bố.
Từ nhận thức như vậy, chúng ta phải khẳng định rằng: biển, đảo là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam là nhiệm vụ thường xuyên và là vấn đề mang tính cấp bách hiện nay, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi người dân. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động mọi nguồn lực trong nước và quốc tế, đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận chính trị, ngoại giao và pháp lí, nhất định chúng ta sẽ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới phát triển đất nước, cùng nhân loại tiến bộ chung sức xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, thịnh vượng.

Thành Công