Vũ Văn
Những
biến cố dồn dập đầy kịch tính của thế giới trong thời gian qua đã tác đọng rất
lớn đến tâm trí và nhận thức của mọi người. Trước xu thế hoà bình - hợp tác, toàn
cầu hoá, khu vực hoá; trước quá trình hội nhập quốc tế sâu rộn, nhiều người dường
như lãng quên vấn đề giai cấp. Ai nói đến đấu tranh giai cấp liền bị quy là “bảo
thủ”, “giáo điều”. Ai nhắc nhở phải cảnh giác với âm mưu “diễn biến hoà bình”
thì bị quy chụp cho cái mũ “thiếu thức thời”, “tư duy cũ”. Nhất là sau sự sụp đổ
chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã hơn 20 năm trôi qua, một lần nữa,
nhiều nhân vật chống cộng và không ít kẻ “ăn theo” càng như được thể, lu loa đủ
điều, hí hửng rằng chủ nghĩa xã hội đã chết, lý tưởng cộng sản đã hết thời; rằng
chủ nghĩa Mác-Lênin đã cáo chung! Lý do duy nhất mà họ đưa ra là cố tình đồng
nhất việc Liên Xô đỗ vỡ với việc chấm dứt chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác-Lênin.
Tại
sao có chuyện rùm beng như thế? Nếu như vấn đề giai cấp không còn nữa, nếu đấu
tranh giai cấp không có nữa, thì lẽ gì họ phải lo sợ, họ phải quá hằn học với
chủ nghĩa xã hội và lý tưởng cộng sản làm vậy? Hoá ra là, vấn đề giai cấp vẫn còn
nguyên đó. Nó tồn tại khách quan cho tới khi nào không còn những giai cấp đối
kháng về lợi ích kinh tế và chính trị. Vấn đề giai cấp thể hiện ra ở tất cả các
khía cạnh kinh tế, chính trị và xã hội, thể hiện trong các cuộc đấu tranh tư tưởng,
trong chính sách và hành động trước các sự kiện diễn ra trên thế giới.
Những cánh nhìn khác nhau
Hiện
nay cũng như trước đây, vì lợi ích của bản thân, giai cấp tư sản luôn dùng mọi
thủ đoạn để loại bỏ công cụ soi sáng các biến cố của loài người là lợi ích giai
cấp và đấu tranh giai cấp. Quan hệ giai cấp là yếu tố quan trọng nhất để phân tích
một cách khoa học mâu thuẫn và sự vận động phát triển của xã hội. Thực tế hiện
nay cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp tục diễn ra theo đúng quy luật
phát triển của xã hội loài người, vẫn là cuộc đấu tranh giữa “ai thắng ai” trên
bình diện quốc tế cũng như trong điều kiện cụ thể của từng nước.
Với
tầm nhìn rộng lớn và toàn diện, tầm nhìn chiến lược và lâu dài về cuộc đấu
tranh giai cấp, bài học qua sự sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô
trước đây vẫn luôn mới mẻ. Bất kể ở đâu, bất kể thời điểm nào, khi vô tình coi
nhẹ hoặc cố tình không đếm xỉa đến tính phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trên
mặt trận tư tưởng, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, tư tưởng và văn
hoá, thì chính lúc đó cách mạng sẽ phải trả giá đắt.
Cho
dù sự sụp đổ chế độ xã họi chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã xảy ra, thì những
học thuyết về giai cấp, vai trò của giai cấp lãnh đạo định hướng cho cuộc cách
mạng đó vẫn không thay đổi, và đó chính là giá trị quý báu của nhân loại. Hơn
20 năm qua, nhân dân các nước Đông Âu và Liên Xô (trước đây) đang kiểm chứng tình
hình hiện nay. Nhiều người bắt đầu nhận ra rằng đã bị đánh cắp một không khí và
thể chế xã hội trong lành gắn liền với lợi ích và hạnh phúc cho mọi người: đó là
chữa bệnh không mất tiền, giáo dục không mất tiền, lương hưu chắc chắn, xã hội
bình đẳng, không có bóc lột, không có áp bức giai cấp…
Trong thế giới TBCN
Chúng
ta thấy rõ cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiềm ẩn trong xã hội TBCN với sự bất công,
phân cực giàu nghèo ngày càng sâu sắc; với cảnh sống khó khăn của đội quân thất
nghiệp ngày càng đông đảo, với tình trạng tính mạng, an ninh và trật tự xã hội
luôn bị đe doạ; với sự phá huỷ và suy đồi đạo đức xã hội vì cơn lốc của lợi nhuận.
Nếu
đi sâu thêm, ta thấy rằng nguồn gốc của sự xung đột giai cấp trong xã hội tư bản
vẫn là do lô gích phát triển trong điều kiện bất bình đẳng, đa số phải phục tùng
lợi ích và quyền lực của thiểu số; vẫn là do xã hội vận hành trên cơ sở quan hệ
bóc lột và bị bóc lột giữa giai cấp tư sản và người lao động. Đó là chủ nghĩa tư
bản có những lúc rất hiệu quả trong việc đem lại thịnh vượng cho nhiều khu vực
trên thế giới. Nhưng làm được điều đó chính là để phục vụ ngày càng tốt hơn cho
giai cấp những người giàu có.
Ở
các nước phương Tây hiện nay, đi đôi với việc phát triển khoa học, kỹ thuật và
tăng năng suất lao động, mức độ bóc lột của
giai cấp tư sản (thể hiện ở tỷ suất giá trị thặng dư) vẫn tăng đáng
kể. Chẳng hạn ở Mỹ, tỷ suất giá trị thặng dư trong các ngành sản xuất công nghiệp
mấy thập kỷ qua đã tăng như sau: năm 1950: 241%; năm 1960: 247,6%; năm 1970:
255%; năm 1980: 289%; những năm 1990: khoảng 300% những năm đầu thế kỷ XXI: khoảng
307%. Ở các nước Tây Âu cũng có mức tăng tương tự.
Không
chỉ ở các nước đang phát triển, mà ngay trong lòng các nước TBCN giàu có nhất,
luôn đồng thời tồn tại một thế giới của những người nghèo khó. Số người sống dưới
mức nghèo khổ hiện nay ở Mỹ khoảng 30 triệu, ở Tây Âu khoảng 40 triệu. Thuế khoá,
thất nghiệp, các tệ nạn xã hội luôn đeo đẳng người nghèo. Mặc dù giai cấp tư sản
hiện nay có sự mềm dẻo nhất định trong việc làm dịu mâu thuẫn giữa tư bản và
lao động, nhưng đấy vẫn chỉ là ở từng nơi, từng lúc, còn về cơ bản, mâu thuẫn
giữa tư bản và lao động vẫn ngày càng gay gắt và chứa đựng sự bùng nổ xã hội.
Cuộc
sống ngày càng chứng minh các dự báo hoàn toàn đúng đắn của các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác-Lênin: mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm
hữu tư nhân sẽ được giải quyết theo hướng công cộng hoá hình thức sở hữu cho phù
hợp với tính chất xã hội của sản xuất, và điều đó không phải cái gì khác mà chính
là chủ nghĩa xã hội.
Từ
tự do cạnh tranh, chủ nghĩa tư bản phát triển tới độc quyền, độc quyền nhà nước,
trong phạm vi rồi ra ngoài phạm vi quốc gia trở thành chủ nghĩa tư bản toàn cầu
hoá. Cùng với quá trình toàn cầu hoá ngày càng tăng, các biện pháp điều chỉnh các
quan hệ kinh tế và sở hữu theo hướng công cộng hoá cũng ngày càng tăng. Điều này
thể hiện rõ ở việc các cổ đông, các tổ chức công đoàn và người lao động ngày càng
trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý kinh tế - xã hội. Những biến đổi trên
vô hình trung trở thành những tiền đề của chế độ xã hội mới trong lòng chủ nghĩa
tư bản.
Vậy
là, mặc dù giai cấp các nhà kinh doanh tư sản hiện đại đã biết linh hoạt và đôi
khi ứng phó có hiệu quả trước diễn biến của tình hình kinh tế - xã hội, nhưng các
lực lượng dân chủ, đội ngũ đông đảo những người làm công ăn lương ở các nước TBCN
hiện nay cũng đã khác trước. Họ hiểu biết hơn và có nhiều hình thức đấu tranh
linh hoạt hơn nhưng không kém phần mạnh mẽ hơn. Và điều này thực tế đang tạo ra
bên trong xã hội tư bản những cơ cấu mới và những quan hệ mới, không mang tính
chất tư sản. Cuộc đấu tranh giai cấp của những người lao động chống bóc lột và
bất công ở các nước TBCN hiện nay diễn ra không chỉ trong khuôn cấu trúc thượng tầng mà cả ở cơ sở hạ tầng, làm
thay đổi nền móng xã hội, làm biến dạng chế độ tư sản. Để trở thành hiện đại,
chủ nghĩa tư bản đã cố gắng tự điều chỉnh để có thể thích nghi với thời đại, nhưng
cũng chính vì thế đa tự làm nảy sinh những vấn đề mới, ngoài ý muốn của nó. Nó
sẽ bị hút dần một cách không tự giác vào một trật tự xã hội mà những mầm mống và
yếu tố của nó sẽ là những điều kiện dẫn tới thay thế chế độ tư hữu bằng chế độ
công hữu trên cơ sở cuộc đấu tranh giai cấp được tiến hành theo một cách thức mới.
Hướng sang thế giới thứ ba
Làm
sao có thể quên thế giới thứ ba khi nói về sự khốc liệt của đấu tranh giai cấp.
Có lẽ trên thế giới, nhiều người vẫn chưa quên nỗi đau về cái chết của Tổng thống
A-gien-đê với chế độ xã hội ông định xây dựng ở Chi-lê; về sự thất bại ở
Ni-ca-ra-goa, En Xan-va-đo, những đảo lộn ở Mô-dăm-bích, Dim-ba-bu-ê, Ăng-gô-la,
Xéc-bi, Áp-ga-ni-xtan, Irăc… Mặc dù quan hệ Mỹ - Cu Ba đã được cải thiện, nhưng
người ta vẫn không quên những gì đã diễn ra xung quanh việc bao vây, cấm vận đối
với nước Cu-ba dũng cảm và kiên cường; cuộc khủng hoảng chính trị tại Ucraina
không phải không nhuốm màu đấu tranh giai cấp… Cùng với các điểm nóng khác ở một
số nước thuộc Liên Xô (cũ), tất cả những sự việc vừa nêu cho thấy rõ cuộc đấu
tranh giai cấp chưa hề ngưng nghỉ, kể cả sau chiến tranh lạnh.
Cũng
chính do vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp còn nguyên mà lịch sử đã diễn ra
với nhiều sự kiện chưa từng thấy ở các nước thế giới thứ ba, nơi các dân tộc ngày
càng thức tỉnh, không cam nhận làm nô lệ.
Một
sự thật mà ai cũng biết là ở Mỹ, hết đời tổng thống này đến đời tổng thống khác,
chính sách đối ngoại đều có một điểm chung: đối phó với cuộc đấu tranh giai cấp
ở các nước thế giới thứ ba. Và cũng vì thế, trong thế giới này đã xuất hiện những
nhân vật nổi tiếng, đại diện cho lương tri của các dân tộc: A-rơ-ben, Hồ Chí
Minh, Lu-mum-ba, Phi-đen Ca-xtơ-rô, A-giên-đê…
Trên
quy mô toàn cầu, các lực lượng chống cộng và chống cách mạng vẫn tiếp tục các đòn
tiến công với sức mạnh khổng lồ, không chỉ bằng các vũ khí huỷ diệt con người mà
bằng mọi vũ khí có thể sử dụng như kinh tế, tư tưởng, văn hoá, truyền thông. Các
lực lượng phản động quốc tế phải triển khai cuộc tiến công trên quy mô lớn như
vậy, càng chứng tỏ chúng rất lo sợ trước sức mạnh tiềm tàng ngày càng tăng của
các dân tộc kiên quyết vứt bỏ mọi xiềng xích nô lệ, thực hiện bằng các chân lý
“không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Bá quyền của Hoa Kỳ trong thế giới TBCN ở
cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI đang bị lung lay, không còn như những năm
của thế kỷ XX.
Chiến tranh không tiếng súng
Các
thế lực đế quốc hiếu chiến và các lực lượng thù địch bao giờ cũng coi sự tồn tại
của chủ nghĩa xã hội là sự uy hiếp đối với chúng, và vì thế, chúng không chấp
nhận sự hiện diện của chủ nghĩa xã hội. Âm mưu phá bỏ Liên Xô, làm tan rã chủ
nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu, lật đổ lãnh đạo của các đảng cộng sản, phủ định
hình thái ý thức XHCN là một mục tiêu nhất quán trong kế hoạch, cũng như trong
hành động của chủ nghĩa đế quốc. Thực hiện hàng loạt chiến lược qua nhiều thập
kỷ “chiến tranh lạnh” mà đặc biệt là cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém làm
suy yếu và kiệt sức Liên Xô, chủ nghĩa đế quốc tới nay vẫn chưa từ bỏ âm mưu làm
suy yếu các nước XHCN còn lại. Vì vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau, tuỳ theo tình
hình thế giới từng lúc, chúng điều chỉnh chiến lược cho thích hợp.
“Diễn
biến hoà bình” tiếp đó là “cách mạng nhung”, “cách mạng màu da cam” và gần đây
là “cách mạng hoa nhài” là những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc nhằm
thực hiện mục tiêu nói trên. Thế giới đã gọi nó là “cuộc chiến tranh không có
khói súng”. Đây thực chất là kế sách phá vỡ thành luỹ của chủ nghĩa xã hội từ bên
trong, là chiến thuật “mối xông nhà” phá ruỗng cơ cấu kinh tế - chính trị-xã hội
của các nước XHCN từ bên trong. Các chính trị gia đề xuất chiến lược “diễn biến
hoà bình” đã tổng kết: muốn tiêu diệt các nước XHCN, không thể dùng vũ lực tấn
công từ bên ngoài. Thực tế đúng như vậy. Chủ nghĩa đế quốc từng bị thất bại liên
tiếp trong các cuộc xâm lược vũ trang chống các nước XHCN, như đối với Liên Xô
sau Cách mạng Tháng Mười, đối với CHDCND Triều Tiên đầu những năm 50, đối với
Cu-ba đầu những năm 60, và nổi bật nhất, đối với Việt Nam từ cuối những năm 40 đến
giữa thập kỷ 70… Do vậy, họ chuyển hướng chống phá các nước XHCN bằng cách trước
hết là làm tan rã các đảng cộng sản cầm quyền, hạt nhân lãnh đạo ở các nước đó.
Muốn vậy, họ phải tìm mọi cách phá hoại các đảng đó về mặt tư tưởng và tổ chức.
Biện
pháp thường dùng để phá hoại đảng cộng sản cầm quyền về tư tưởng là lấy tư tưởng
xã hội - dân chủ thay cho chủ nghĩa Mác-Lênin. Những chuyên gia chống cộng của
Mỹ cho rằng: chủ nghĩa xã hội – dân chủ và nhà nước phúc lợi thường là biện pháp
hữu hiệu để đấu tranh với sự hấp dẫn của học thuyết cộng sản chủ nghĩa. Từ đó,
họ đưa ra những cách lựa chọn dân chủ khác nhau cho mô hình cộng sản chủ nghĩa.
Đây là cơ sở phương pháp luận cho việc đa nguyên hoá về tư tưởng, tiến tới thay
thế lập trường tư tưởng của chủ nghĩa Mác bằng ý thức tư sản.
Từ
việc phá hoại về tư tưởng, bài bản “diễn biến” tiếp theo là phá hoại đảng cộng
sản về mặt tổ chức: cổ vũ đa nguyên chính
trị và đa đảng đối lập trong chế độ XHCN. Một khi đã chấp nhận đa nguyên chính
trị và đa đảng đối lập, thì làm sao tránh khỏi tình trạng trong đảng cộng sản cầm
quyền thì có các “phái”, còn bên ngoài thì có các đảng khác?
Để
thực hiện “diễn biến hoà bình” ở các nước không theo con đường TBCN, các thế lực
chống cộng còn dùng thủ đoạn từng bước mua chuộc, lôi kéo các phần tử dao động,
bất mãn, gây dựng các tổ chức chống cộng sản ngay trong đảng cộng sản và các tổ
chức xã hội ở các nước đó.
Thực
tế cho thấy, phương Tây không chỉ nuôi dưỡng mà còn ủng hộ, thúc đẩy phe đối lập
chính trị đoạt quyền lãnh đạo của đảng cộng sản ở các nước đó. Để làm việc này,
các thế lực chống cộng thường dùng các hình thức sau:
1.
Vạch kế hoạch gây rối trong xã hội để dễ bề giành quyền lực. Hoặc lợi dụng khó
khăn về kinh tế, phối hợp bên trong với bên ngoài để thực hiện âm mưu chính trị.
2.
Thông qua bầu cử hợp pháp sau khi bằng nhiều thủ đoạn tinh vi gây sức ép về
kinh tế và chính trị, buộc đảng cộng sản cầm quyền phải thực hiện đa nguyên chính
trị và đa đảng đối lập trong xã hội.
3.
Phát động đảo chính quân sự khi đảng cộng sản cầm quyền suy yếu, mất tín nhiệm
và sự ủng hộ trong quần chúng do đường lối, chính sách sai lầm.
Tất
cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước XHCN
cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc
đấu tranh giai cấp hiện nay so với trước đây không kém phần gay go quyết liệt,
phức tạp. Ở các nước này, trong điều kiện mở cửa và hội nhập với thế giới, dùng
thủ pháp và công cụ kinh tế của chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội, đảng
cộng sản cầm quyền càng phải đề cao cảnh giác, mài sắc ý chí cách mạng, kiên định
lập trường giai cấp, nhận dạng thật rõ các hành động và âm mưu thù địch để có
biện pháp đấu tranh có hiệu quả.
Đối
với nước ta hiện nay, vấn đề giai cấp thể hiện rất rõ nét trong lĩnh vực tư tưởng
là việc đấu tranh để bảo vệ lý tưởng cộng sản, bảo vệ chủ quyền Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, bảo vệ định hướng XHCN và bảo vệ đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước. Đó còn là những nhiệm vụ cụ thể để đấu tranh ngăn chặn
những biểu hiện thoái hoá, biến chất về tư tưởng, chính trị của một bộ phận không
nhỏ cán bộ đảng viên. Trong khi thực hiện tốt việc tăng cường và nâng cao chất
lượng công tác lý luận – tư tưởng, cần đấu tranh có hiệu quả chống những quan điểm
sai trái.
Trên
lĩnh vực kinh tế, phải giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế trong
nước, hội nhập quốc tế; từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế độc lập tự
chủ. Mỗi bước phát triển kinh tế luôn gắn với việc bảo đảm an sinh xã hội, bảo
vệ môi trường sinh thái.
Trên
lĩnh vực văn hoá, phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, tiếp
thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá của nhân loại để xây dựng nền văn hoá dựa trên
đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng con người mới có năng lực và phẩm chất đạo đức
tốt, có hoài bão và lý tưởng cao đẹp, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, mình vì mọi
người.
Những
thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua kể từ khi có Đảng đã
là minh chứng hùng hồn về sức mạnh kỳ diệu của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh
vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sức mạnh ấy được kết tinh bởi sự lãnh đạo
tài tình của ĐCSVN với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập tự cường và tinh
thần chủ động sáng tạo của nhân dân ta. Điều đó càng khẳng định sự lãnh đạo của
ĐCSVN là tất yếu khách quan, là nhân tố hàng đầu quyết định sự thành công của cách
mạng. Đó chính là cuộc cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, gắn kết
hữu cơ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét