Hầu hết những nhà "dân
chủ" hiện nay ở Việt Nam cũng như những người chống cộng ở hải ngoại đều
gặp nhau ở một tư tưởng, đó là bằng mọi cách lôi kéo Việt Nam thoát Trung để
theo Mỹ. Họ luôn tận dụng mọi cơ hội, đặc biệt những ngày như 19/1 (trận hải
chiến Hoàng Sa năm 1974) hay 17/2 (chiến tranh biên giới phía Bắc) để khoét sâu
tâm lý ghét Trung Quốc và ngả theo Mỹ. Họ cho rằng Mỹ là cứu cánh của VN, chỉ
có theo Mỹ thì VN mới trở nên giàu, mạnh. Điều này cũng khá nực cười vì họ
không biết rằng chính Mỹ đã đi đêm với Trung Quốc, bán đứng VNCH trong cuộc hải
chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974. Do vậy, đến hẹn lại lên, 19/1 năm nay các nhà
"dân chủ", "dân oan", "dân khiếu kiện" lại tụ
tập để "tưởng nhớ" về
"một thất bại xưa" của VNCH, với những hoạt động thắp hương, diễn
văn, diễn vở, chụp ảnh, tự sướng để làm hàng trên internet. Và vẫn như thường
lệ kèm theo những lời ca ngợi "sự hy sinh cao cả, chính nghĩa" của
lính hải quân VNCH (chiến đấu anh dũng, thúc thủ chỉ bởi vì "chênh lệch
lực lượng" với quân Trung Quốc) là những lời hậm hực bài xích, vu khống
chế độ VN hiện nay trong việc bảo vệ chủ quyền của đất nước, trong lãnh đạo
hoạt động đối ngoại... Vậy sự thực về Hải chiến Hoàng Sa như thế nào? Có đúng
nguyên nhân của sự thất bại đó của VNCH trước TQ chỉ là từ sự “chênh lệch lực
lượng”?
Trên cơ sở tôn trọng sự thật,
xin nêu một vài hiểu biết về trận chiến mà bản thân đã thu thập được để cùng
với mọi người có thể hiệu được phần nào vào "sự sâu sắc" những nhà “dân
chủ”. Họ biện minh rằng vì chênh lệch lực lượng nên quân VNCH mới bị thất thủ
trong trận hải chiến năm 1974. Theo họ, rằng quân Trung Quốc lúc đó có sự hỗ
trợ của "không quân” (Mig21 và Mig23 ) và “tàu tên lửa”. Sự thật thì
sao? Sự thật khi đó thì phía Hải quân
VNCH có số lượng tàu ít hơn nhưng về hỏa
lực và độ giãn nước đều hơn hẳn quân địch, chưa kể các yếu tố công nghệ hiện
đại hơn, đảm bảo độ chính xác tốt hơn nhờ có sự hỗ trợ của pháo tự động. Trong
hải chiến kiểu đấu pháo giữa các tàu, giãn nước cũng như hỏa lực, cỡ nòng pháo
có vai trò cực kì quan trọng, về mặt này, VNCH có ưu thế tuyệt đối. Họ có các tàu
Trần Bình Trọng (HQ-5), Lý Thường Kiệt (HQ-16), and Trần Khánh Dư (HQ-4), Nhật
Tảo (HQ-10) với choán nước từ 650 đến 2800 tấn. Hỏa lực mạnh với cỡ nòng pháo
từ 20mm đến 127mm với cơ số hàng chục nòng( 2 nòng 127mm, 4 nòng 76mm, trong đó
có 3 nòng bắn nhanh ("hải pháo 76 ly tự động"), đặc biệt có ngắm bắn
máy tính-radar, 16 nòng 40mm liên thanh, 14 nòng 20mm liên thanh và nhiều súng
cỡ nòng nhỏ hơn khác.
Trong khi đó, trang bị tàu
chiến của TQ hạn chế hơn nhiều, với số lượng tàu là 4 tầu rà mìn nhỏ Kronstadt,
2 tàu rà mìn nhỏ khác với giãn nước chỉ khoảng 390 tấn mỗi tàu. Về hỏa lực, Hải
quân TQ cũng cực kì thua kém với cỡ nòng chỉ từ 25-85mm (tổng cộng các tàu: 4
nòng 85mm phát một nạp đạn tay (Đ-44 bản 85mm cho hải quân), 8 nòng 57mm liên
thanh (súng phòng không đầu đạn 2,8kg, liên thanh).12 nòng 37mm, 8 nòng 25mm )
Về thông tin mà các nhà "dân chủ" đưa ra: TQ có “không quân oanh tạc” các đảo mà quân VNCH mới thất thủ, ( nguyên văn :” Ngày 20/01, 4 phi cơ MiG-21 và MiG-23 TQ oanh tạc các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh và Hoàng Sa ... Tiếp đó, binh lính TQ đổ bộ tấn công các đơn vị VNCH”) là hoàn toàn không chính xác. Bởi vì, Mig21 là máy bay tiêm kích đánh chặn, tầm bay hạn chế và không đủ tầm bay để mang bom từ Hải Nam ra Hoàng Sa để oanh tạc rồi trở về. Bên cạnh đó, năm 1974, Trung Quốc không hề có Mig23 do năm 1960 và cao điểm là sau xung đột biên giới năm 1969, Trung Quốc đã đoạn tuyệt quan hệ với Liên Xô. Mig23 là sản phẩm của Liên Xô được đưa vào sản xuất loạt năm 1970. Nghĩa là chỉ 1 năm sau xung đột biên giới với Liên Xô, nên Trung Quốc không thể nào có Mig23 dù chỉ là biến thể xuất khẩu. Có thể nói, đây là thông tin cực kì sai lầm và chủ quan, không hề có chuyện không quân Trung quốc tham chiến trong Hải chiến Hoàng Sa.
Về thông tin mà các nhà "dân chủ" đưa ra: TQ có “không quân oanh tạc” các đảo mà quân VNCH mới thất thủ, ( nguyên văn :” Ngày 20/01, 4 phi cơ MiG-21 và MiG-23 TQ oanh tạc các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh và Hoàng Sa ... Tiếp đó, binh lính TQ đổ bộ tấn công các đơn vị VNCH”) là hoàn toàn không chính xác. Bởi vì, Mig21 là máy bay tiêm kích đánh chặn, tầm bay hạn chế và không đủ tầm bay để mang bom từ Hải Nam ra Hoàng Sa để oanh tạc rồi trở về. Bên cạnh đó, năm 1974, Trung Quốc không hề có Mig23 do năm 1960 và cao điểm là sau xung đột biên giới năm 1969, Trung Quốc đã đoạn tuyệt quan hệ với Liên Xô. Mig23 là sản phẩm của Liên Xô được đưa vào sản xuất loạt năm 1970. Nghĩa là chỉ 1 năm sau xung đột biên giới với Liên Xô, nên Trung Quốc không thể nào có Mig23 dù chỉ là biến thể xuất khẩu. Có thể nói, đây là thông tin cực kì sai lầm và chủ quan, không hề có chuyện không quân Trung quốc tham chiến trong Hải chiến Hoàng Sa.
Nhưng một điều cực kỳ quan
trọng là, vào thời điểm đó, không quân VNCH vốn luôn tự hào là lực lượng không
quân lớn thứ ba thế giới, với nhiều máy bay có thể chi viện cho Hoàng Sa đã
hoàn toàn đứng ngoài nhìn cuộc chiến. Có thể nói đây là lực lượng có khả năng
nhất để làm đảo ngược tình thế thì đã án binh bất động chứng kiến sự thất bại
của lực lượng hải quân lúc bấy giờ ( F5 có tầm bay chiến đấu đến hơn 800km và
cường kích A37 có thể bay với tầm bay chiến đấu đến 740km- dư sức quần thảo
vùng trời Hoàng Sa và thay đổi cục diện chiến sự )
Như vậy, quân đội VNCH có ưu
thế tuyệt đối về hỏa lực, cũng như không quân, không hề có chuyện Mig21 hay
Mig23 của Trung Quốc yểm trợ, cũng không có bất kỳ tàu tên lửa nào của Trung
Quốc ra chi viện. Thất bại mà VNCH nhận lấy, không phải do “chênh lệch lực lượng”
mà hoàn toàn ở tinh thần chiến đấu, sự chỉ huy của lãnh đạo tại thực địa cũng
như mấu chốt là ở sự giương mắt đứng nhìn khó hiểu của lực lượng không quân lớn
thứ ba thế giới thời đó.
Xin trích lại câu trả lời của
Phi công Nguyễn Thành Trung (Không lực VNCH) về kế hoạch dùng máy bay oanh tạc
Hoàng Sa để hiểu rõ hơn điều đó. “Hàng ngày, máy bay RF5 có nhiệm vụ bay và
chụp ảnh các toạ độ từ nhỏ nhất ở Hoàng Sa, xem có thay đổi gì, tàu chiến Trung
Quốc di chuyển ra sao, bố trí các cụm phòng thủ thế nào… đưa về chiếu ra cho
tất cả phi công theo dõi. Tụi tôi đếm từng tàu một, thậm chí đếm được cả số ghi
trên tàu, chia bản đồ ra làm bốn, mỗi góc tư giao cho một phi đoàn, phi đoàn
thứ năm bay bảo vệ trên không. Họ có 43 tàu tất cả và quyết tâm của tụi tôi là
đánh chìm tất cả 43 tàu đó trong vài giờ.
Về không quân, vào thời điểm đó chúng tôi có nhiều lợi thế hơn Trung Quốc. Bay từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa bằng cự ly từ đảo Hải Nam ra. Ưu thế của phi đội tụi tôi là máy bay bay ra, đánh nửa tiếng vẫn thừa dầu bay về còn Trung Quốc chỉ có Mig 21, bay ra đến Hoàng Sa thì không đủ dầu bay về. Khí thế phi công lúc đó hừng hực, mấy anh chỉ huy trưởng từ đại tá trở xuống đòi đi đánh trước. Tất cả háo hức chờ đến giờ G là xuất kích. Nhưng giờ G ấy đã không đến. Hạm đội 7 của Mỹ trên biển không cứu các hạm đội của đồng minh VNCH bị bắn chìm và bị thương trên đảo. Dường như vì lợi ích của mình, các quốc gia lớn có quyền mặc cả và thương lượng bất chấp sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác.”
Về không quân, vào thời điểm đó chúng tôi có nhiều lợi thế hơn Trung Quốc. Bay từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa bằng cự ly từ đảo Hải Nam ra. Ưu thế của phi đội tụi tôi là máy bay bay ra, đánh nửa tiếng vẫn thừa dầu bay về còn Trung Quốc chỉ có Mig 21, bay ra đến Hoàng Sa thì không đủ dầu bay về. Khí thế phi công lúc đó hừng hực, mấy anh chỉ huy trưởng từ đại tá trở xuống đòi đi đánh trước. Tất cả háo hức chờ đến giờ G là xuất kích. Nhưng giờ G ấy đã không đến. Hạm đội 7 của Mỹ trên biển không cứu các hạm đội của đồng minh VNCH bị bắn chìm và bị thương trên đảo. Dường như vì lợi ích của mình, các quốc gia lớn có quyền mặc cả và thương lượng bất chấp sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác.”
Ngoài ra, các nhà "dân
chủ" cũng cần phải biết thêm thông tin. Trong trận chiến ngày 19/1/1974
tại Hoàng Sa, sau khoảng 15 phút giao tranh, Nhật Tảo HQ-10 bị
trúng đạn vào tháp pháo và chìm tại chỗ sau đó. 62 sĩ quan, thủy thủ Việt Nam
Cộng hòa trên tàu đã tử trận. Một số người khác được một tàu buôn Hà Lan cứu
vớt sau gần 4 ngày lênh đênh trôi giạt trên biển. Trong khi, như phi công
Nguyễn Thành Trung đã nói, Hạm đội 7 của Mỹ đã từ chối lời đề nghị tham gia tìm
kiếm, cứu hộ các sĩ quan, thủy thủ còn sống trên tàu HQ-10 của phía VNCH.
Và cũng theo các hồ sơ ngoại giao của Mỹ được giải mật
trong thời gian qua, Washington đã chủ động bỏ rơi và gây sức ép buộc VNCH
không được “manh động” trong vấn đề Hoàng Sa nhằm bảo vệ "thời kỳ trăng
mật" trong quan hệ với TQ. Trong khi đó, như một sự trớ trêu, Liên Xô lại
là một trong những quốc gia tỏ ra thông cảm với VNCH trong vụ Hoàng Sa, qua
việc chỉ trích Trung Quốc, dù chỉ để phục vụ mục đích tuyên truyền chống Bắc
Kinh vào lúc đó. Ngược lại, bằng một thái độ lạnh nhạt, Washington và các đồng minh đã cố gắng
thuyết phục Sài Gòn không đưa vấn đề Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an Liên Hiệp
Quốc. Thái độ của Mỹ trong vấn đề Hoàng Sa đã được một đại diện ngoại giao Liên
Xô tại Liên Hiệp Quốc mô tả bằng một câu nói mỉa mai rằng Washington đang bối
rối trong việc lựa chọn ủng hộ “đồng minh cũ và người bạn mới”.
Sau khi Hải chiến Hoàng Sa nổ ra vào ngày 19.1, Đại sứ
Mỹ Martin ngày 20.1 đã gửi điện tín báo cáo về Bộ Ngoại giao cho biết họ đã tức
tốc đề nghị các quan chức VNCH hãy kiềm chế, tránh hành động leo thang và khẳng
định quân đội Mỹ sẽ không hề can thiệp trong bất kỳ tình huống nào. Bộ Ngoại
giao Mỹ trước đó thông báo cho các đại sứ quán của Mỹ rằng họ đã yêu cầu Bộ
Quốc phòng chỉ thị cho hải quân tránh xa khu vực.
Trong cuộc gặp với quyền trưởng Văn phòng Liên lạc
Trung Quốc ở Washington Hàn Tự ngày 23.1.1974, Kissinger đã đề nghị Bắc Kinh
xem xét trường hợp của nhân viên người Mỹ Gerald Emil Kosh bị bắt giữ trong
trận chiến và khẳng định Mỹ không ủng hộ tuyên bố chủ quyền của VNCH với Hoàng
Sa: “Chính quyền Nam Việt Nam đang gửi một số kiến nghị đến các tổ chức quốc tế
như SEATO cũng như Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi muốn các ông biết rằng chúng tôi
không liên kết với những kiến nghị đó”, Kissinger phát biểu, theo một biên bản
được giải mật của Bộ Ngoại giao Mỹ.
Tôi cho rằng, bài viết là câu trả lời thích đáng cho
những ai đó còn nuôi hy vọng "thoát Trung để theo Mỹ"!
Tàu khu trục HQ-16 có chiều dài 94,72 mét, rộng 12,5 mét,
mớn nước 4,9 mét, lượng giãn nước tiêu chuẩn 1.766 tấn, đầy tải 2.800 tấn, thủy
thủ đoàn 200 người, tốc độ hành trình 18 hải lý/h. Vũ khí chính trên tàu bao
gồm 1 pháo hạm 127mm, 2 cối 81mm. HQ-16 là tàu chiến lớn nhất, hỏa lực mạnh
nhất của hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Tàu khu trục nhỏ HQ-16 Lý Thường Kiệt
Tàu khu trục Trần Khánh Dư HQ-4 có chiều dài 93 mét, rộng
11,15 mét, mớn nước 3,18 mét, lượng giãn nước tiêu chuẩn 1.253 tấn, đầy tải 1.590
tấn. Tàu được trang bị 4 động cơ diesel truyền động cho chân vịt 2 trục, tốc độ
tối đa 21 hải lý/h.
Tàu được trang bị 3 pháo 76mm, 2 pháo 40mm, 8 pháo 20mm, 3
ống phóng ngư lôi 533mm, 8 máy phóng mìn sâu chống tàu ngầm. Sau khi kết thúc
chiến tranh Việt Nam, tàu
HQ-4 được chuyển giao hoạt động trong hải quân Việt Nam với tên gọi HQ-3. Đến nay tình
trạng hoạt động của tàu này không rõ ràng.

Tàu khu trục nhỏ HQ-4
Trần Khánh Dư
Tàu khu trục HQ-5 có chiều dài 94,72 mét, rộng 12,5 mét,
mớn nước 4,9 mét, lượng giãn nước tiêu chuẩn 1.766 tấn, đầy tải 2.800 tấn, thủy
thủ đoàn 200 người, tốc độ hành trình 18 hải lý/h. Vũ khí chính trên tàu bao
gồm 1 pháo hạm 127mm, 2 cối 81mm.

Tàu khu trục nhỏ HQ-5
Trần Bình Trọng cùng lớp với tàu HQ-16.
Có chiều dài
56,24 mét, rộng 10 mét, mớn nước 2,97 mét. Lượng giãn nước tiêu chuẩn 650 tấn,
tốc độ hành trình 14,8 hải lý/h, thủy thủ đoàn 104 người, tàu hộ tống HQ-10
được trang bị một pháo 76mm, 6 pháo 20mm, 4 pháo 40mm, 1 dàn phóng cối chống
ngầm, 4 ống phóng mìn biển sâu cùng 2 hệ thống xử lý mìn

Tàu hộ tống Nhật Tảo HQ-10.
Tịnh Hội
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét